Theo kết quả điều tra, khảo sát, tình hình vi phạm pháp luật (VPPL) về môi trường của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và công dân diễn ra tương đối phổ biến với một số vi phạm điển hình như: Vi phạm các quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường; Vi phạm các quy định về xử lý chất thải, nước thải; Vi phạm các quy định về quản lý, xử lý chất thải nguy hại, chất thải y tế; Vi phạm các quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu; phế liệu...Những kết quả điều tra này sẽ là những đóng góp đầu vào quan trọng cho việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống các quy định về theo dõi thi hành pháp luật nói chung và môi trường nói riêng, đặc biệt là cơ sở cho việc sửa Luật BVMT 2005 cho phù hợp với tình hình hiện nay.
Tình hình tuân thủ pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân
Theo kết quả điều tra của Bộ Tư pháp, tình hình VPPL về môi trường của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và công dân diễn ra tương đối phổ biến, trên nhiều lĩnh vực khác nhau, ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển kinh tế - xã hội. Số lượng các vụ việc vi phạm được phát hiện và đã áp dụng các biện pháp xử lý có chiều hướng gia tăng với mức độ ngày càng nghiêm trọng.
Tại Hà Nội, năm 2009 đã thanh tra, kiểm tra 267 cơ sở, có 256 cơ sở có hành vi vi phạm, đã xử phạt 230 cơ sở với tổng số tiền là 3.203.000.000 đồng, đình chỉ 1 cơ sở sản xuất, 23 lò gạch, cưỡng chế phá bỏ 11 lò gạch. 6 tháng đầu năm2010, thanh tra 85 cơ sở, đã phát hiện và xử phạt 50 cơ sở vi phạm, với tổng số tiền là 600.000.000 đồng.
Tại Hải Phòng, trong năm 2010, phát hiện vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính đối với 10 doanh nghiệp với số tiền 150.000.000 đồng; đề xuất UBND thành phố ra quyết định xử phạt 4 công ty phát triển hạ tầng khu công nghiệp (KCN) 310.000.000 đồng. Lực lượng Cảnh sát Môi trường phối hợp với đoàn kiểm tra liên ngành phát hiện, điều tra, xác minh 363 vụ vi phạm, hoàn thành xử lý 311 vụ; phạt vi phạm hành chính hơn 855.000.000 đồng. Trong đó, riêng lực lượng phòng, chống tội phạm môi trường phát hiện 132 vụ, phạt vi phạm hành chính 759.650.000 đồng; phối hợp với đoàn kiểm tra liên ngành xử lý 146 cơ sở vi phạm, phạt cảnh cáo 10 cơ sở, phạt hành chính 113.400.000 đồng.
Tại Nghệ An, năm 2009 đã tiến hành kiểm tra tại 71 cơ sở sản xuất kinh doanh (theo Quyết định số 1107/QĐ-UBND ngày 1/4/2009), 9 cuộc thanh tra việc thực hiện các quy định về pháp luật đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản và BVMT của các tổ chức kinh tế trên địa bàn tỉnh. Chánh Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 33 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 33 tổ chức kinh tế; đề nghị UBND tỉnh ban hành 1 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 1 tổ chức kinh tế với tổng số tiền là 345.000.000 đồng; đề nghị UBND tỉnh ban hành Quyết định truy thu 1.088.000.000 đồng phí BVMT của 1 tổ chức kinh tế.
Tại Đà Nẵng, năm 2009 tiến hành 17 cuộc thanh tra đối với 38 cơ sở, phát hiện vi phạm và xử lý 1.304 cơ sở vi phạm với tổng số tiền là 285.100.000 đồng. 6 tháng đầu năm 2010 tiến hành 9 cuộc thanh tra đối với 33 cơ sở, phát hiện vi phạm và xử phạt 12 cơ sở vi phạm với tổng số tiền là 37.600.000 đồng.
Tại TP. Hồ Chí Minh, năm 2009 tiến hành kiểm tra hơn 300 đơn vị, phát hiện vi phạm và xử phạt 357 đơn vị. 6 tháng đầu năm 2010 tiến hành kiểm tra hơn 100 đơn vị, phát hiện vi phạm và xử phạt 100 đơn vị.
Tại Cần Thơ, năm 2009 tiến hành 2 cuộc thanh tra kế hoạch đối với 19 công ty, 8 cuộc thanh tra đột xuất với 8 công ty. Tổng số tiền phạt là: 127.500.000 đồng. Năm 2010 tiến hành 3 cuộc thanh tra kế hoạch, 4 cuộc thanh tra đột xuất với tổng số 32 doanh nghiệp trong đó phát hiện vi phạm và xử lý đối với 6 doanh nghiệp với tổng số tiền phạt là 246.000.000 đồng.
Một số hành vi VPPL điển hình và phổ biến
Tổng hợp kết quả phát hiện, xử lý các VPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện cho thấy, các VPPL về môi trường nổi lên ở một số lĩnh vực với một số vi phạm điển hình sau đây:
Vi phạm các quy định về báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM)
Theo kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, các tổ chức, cá nhân thường thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ cam kết của báo cáo ĐTM đã được phê duyệt và Bản cam kết BVMT hoặc Đề án BVMT đã được xác nhận; chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải rắn, lỏng, khí như đã cam kết đăng ký, có nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã xây dựng trạm xử lý những hệ thống xử lý không đạt yêu cầu về kỹ thuật hoặc không vận hành thường xuyên.
Theo quy định, các cơ sở chỉ được phép đi vào hoạt động chính thức sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền "kiểm tra, xác nhận việc đã thực hiện đầy đủ các nội dung của báo cáo ĐTM và yêu cầu của quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM". Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn các doanh nghiệp đi vào hoạt động đã bỏ qua thủ tục này.
Trong năm 2010, kết quả thanh tra, kiểm tra đối với 117 khu KCN trong toàn quốc cho thấy, 24/117 KCN đang hoạt động hoặc đang xây dựng (20,51%) nhưng chưa được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM, 88/117 KCN đang hoạt động hoặc đang xây dựng (75,21%) đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM. Tuy nhiên, chỉ có 30/88 KCN đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM (68,18%) thực hiện đúng và đầy đủ nội dung trong báo cáo ĐTM được phê duyệt.
Vi phạm các quy định về xử lý chất thải, nước thải: kết quả khảo sát cho thấy, hành vi vi phạm các quy định về xử lý chất thải, nước thải xảy ra chủ yếu trong các KCN và các làng nghề.
Tại các KCN: Theo Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2009, tính đến tháng 10/2009, cả nước có 223 KCN, trong đó có 171 KCN đã đi vào hoạt động, 52 KCN đang trong quá trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật, được phân bổ trong 56/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kết quả kiểm tra đối với 92 KCN cho thấy" có 26/92 KCN đang hoạt động (28,26%) đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung. Trong đó có 13/26 KCN (50%) xử lý nước thải chưa đạt yêu cầu và vượt quy chuẩn Việt Nam. 37/92 KCN đang hoạt động (40,21%) xả nước thải vượt quy chuẩn Việt Nam. Trong đó có 14/37 KCN vượt từ 10 lần trở lên; 8/37 KCN vượt từ 5 lần đến dưới 10 lần; 10/37 KCN vượt từ 2 lần đến dưới 5 lần; 5/37 KCN vượt dưới 2 lần. 26/92 KCN đang hoạt động (28,26%) không thực hiện giám sát chất thải, giám sát môi trường xung quanh theo quy định. Hầu hết, các KCN chưa có bãi trung chuyển chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại tập trung theo quy định (hiện chỉ có 3/92 KCN đang hoạt động có bãi trung chuyển chất thải rắn thông thường).
Tại các làng nghề: Theo Báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIII, số lượng làng nghề thống kê trên toàn quốc đến thời điểm tháng 7/2011 là 3.355 làng. Hầu hết, ở các làng nghề, vấn đề BVMT chưa được quan tâm và đầu tư thích đáng; cơ sở hạ tầng về BVMT, các công trình xử lý chất thải, khí thải quy mô tập trung và riêng lẻ hầu như không có; ý thức của người dân rất kém, nặng về hiệu quả kinh tế và trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước. VPPL về môi trường xảy ra rất phổ biến tại các làng nghề đã làm cho tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là các làng nghề sản xuất giấy, thuộc da, dệt nhuộm và tái chế kim loại. Chất thải độc hại khó phân hủy tại các làng nghề đều có các chỉ tiêu vượt quá tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của nhân dân.
Vi phạm các quy định về quản lý, xử lý chất thải nguy hại, chất thải y tế:
Hiện nay, cả nước có trên 60 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xử lý chất thải nguy hại. Tuy nhiên, đối với một số doanh nghiệp công nghệ xử lý còn lạc hậu, trình độ chuyên môn hạn chế. Việc xử lý chất thải nguy hại của một số doanh nghiệp không đúng quy trình, quy định, một số trường hợp doanh nghiệp đã chôn hàng ngàn tấn chất thải nguy hại xuống dưới lòng đất nhằm giảm chi phí xử lý. Tại nhiều địa phương chưa có cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung hoặc đã có nhưng không xử lý được toàn bộ các loại chất thải nguy hại mà phải thu gom và vận chuyển sang địa phương khác. Đây cũng là nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phát sinh trong quá trình vận chuyển, phân loại, lưu giữ và xử lý.
Bên cạnh đó, tình hình vi phạm các quy định về quản lý, xử lý rác thải y tế tại hầu hết các bệnh viện, cơ sở y tế trong cả nước cũng xảy ra tương đối phổ biến. Hiện nay chỉ có khoảng trên 20% bệnh viện, cơ sở y tế có hệ thống xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn, hầu hết rác thải chưa được quản lý và xử lý theo quy chế xử lý chất thải y tế. Nhiều loại rác thải y tế nguy hại như bệnh phẩm, vỏ chai, dây truyền dịch, bom kim tiêm đã qua sử dụng để lẫn lộn với rác thải thông thường. Thậm chí, ở một số bệnh viện còn cho phép thu gom để bán cho cơ sở tái chế để tận thu. Một mặt vì các cơ quan chức năng chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình, mặt khác hiện nay điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc của các cơ sở thực hiện chức năng xử lý rác thải y tế chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động này.
Vi phạm các quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu.
Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hàng năm, có hàng triệu tấn phế liệu làm nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước được nhập khẩu qua gần 60 cửa khẩu quốc tế, quốc gia, 49 cảng biển các loại của Việt Nam. Trong năm 2007, có hơn 1 triệu tấn thép phế liệu được nhập vào Việt Nam, năm 2008 là 1,4 triệu tấn, năm 2009 là trên 2 triệu tấn, năm 2010 nhập khoảng gần 4 triệu tấn (chưa tính khoảng gần 1 triệu tấn nhựa phế liệu, giấy phế liệu và nhiều loại phế liệu khác như đồng, nhôm, linh kiện điện tử...).
Chỉ tính riêng Hải Phòng, theo thống kê chưa đầy đủ của Cục Hải quan Hải Phòng, trong giai đoạn từ năm 2003 đến 30/9/2010, có trên 3.000 container chứa hàng chục nghìn tấn sản phẩm, phế liệu nhập khẩu, hoặc tạm nhập, tái xuất vi phạm các quy định về BVMT của Việt Nam nhập khẩu qua các cảng khu vực Hải Phòng. Theo Cục Hải quan Hải Phòng, việc nhập khẩu "rác" chưa bao giờ có dấu hiệu suy giảm. Trong giai đoạn 2003 - 2006, chỉ riêng với loại ắc quy chì phế thải, thiết bị điện tử đã qua sử dụng (chất thải nguy hại) nhập qua các cảng của Hải Phòng do các cơ quan chức năng đã phát hiện là 2.276 container. Trong hai năm 2008 - 2009, phát hiện 340 container rác nhập khẩu dưới dạng khai báo là phế liệu, chưa tính số lượng các container ắc quy chì phế thải, vi mạch điện tử cũ. Trong 9 tháng của năm 2010, phát hiện số lượng container chứa "rác" nhập bằng số lượng cả hai năm 2008, 2009.

Việc nhập khẩu trái phép chất thải vào Việt Nam chủ yếu được thực hiện dưới hình thức phế liệu làm nguyên liệu sản xuất hoặc thiết bị công nghệ lạc hậu, với thủ đoạn phổ biến là "tạm nhập, tái xuất". Một số doanh nghiệp lợi dụng cơ chế kiểm hóa xác suất, thậm chí móc nối với một số tổ chức kiểm định, giám định để có kết luận hàng hóa đạt tiêu chuẩn về môi trường. Một số doanh nghiệp còn cấu kết với nhân viên hải quan để lấy mẫu trong các lô hàng đảm bảo yêu cầu chất lượng đã đuợc chuẩn bị sẵn, từ đó dễ dàng được thông quan nhập rác một cách dễ dàng.
Nghiêm trọng hơn là hành vi nhập rác thải sinh hoạt, các loại chất dioxin, thực phẩm kém chất lượng, bột xương bò điên, kể cả chất có phóng xạ, các thiết bị công nghệ lạc hậu sản xuất từ những nam 60 của thế kỷ trước. Một số trường hợp khi bị phát hiện đã khai báo là "gửi nhầm hàng" và xin được chuyển trả lại nơi gửi đến. Một số trường hợp khác, khi bị phát hiện, doanh nghiệp đứng tên nhận hàng đều không nhận trách nhiệm thuộc về mình. Đồng thời, cơ quan quản lý nhà nước không đủ chứng cứ để kết luận, hay xử phạt doanh nghiệp. Vì vậy, Nhà nước buộc phải bỏ một khoản kinh phí nhất định để thực hiện việc tiêu hủy số lượng rác này.
Ngoài những nhóm hành vi nêu trên, VPPL về BVMT còn xảy ra trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Các hành vi có tính phổ biến và điển hình là hành vi: đổ rác thải bừa bãi tại các khu dân cư, đặc biệt là khu dân cư hai bên bờ sông và ở các khu đô thị; vận chuyển vật liệu xây dựng, chất phế thải xây dựng trong thành phố; sử dụng các phương tiện, máy móc trong sản xuất, phương tiện giao thông không bảo đảm tiêu chuẩn về BVMT; hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm...
Nguyên nhân của tình hình VPPL về BVMT
Thứ nhất, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Nhìn một cách toàn diện có thể thấy rằng, bên cạnh các ưu điểm, thì hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về môi trường ở nước ta vẫn còn rất nhiều khiếm khuyết, thiếu đồng bộ và chưa rõ ràng, tính khả thi chưa cao; một số quy định chưa chặt chẽ và không phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; một số văn bản chưa được quy định chi tiết và hướng dẫn một cách kịp thời.
Thứ hai, ý thức chấp hành pháp luật: Mặc dù vấn đề truyền thông, phổ biến về BVMT nói chung và pháp luật về BVMT nói riêng đã được quan tâm và triển khai một cách tương đối bài bản. Tuy nhiên, hiệu quả công tác này vẫn còn hạn chế. Nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc BVMT, một số đối tượng khác mặc dù đã nhận thức đầy đủ nhưng vì lợi ích cá nhân nên vẫn cố tình vi phạm.
Thứ ba, vấn đề xử lý VPPL: Thực tế cho thấy, việc xử lý VPPL về môi trường chưa được thực hiện một cách đồng bộ và thống nhất giữa các Bộ, ngành, địa phương; việc áp dụng các hình thức xử lý của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực sự nghiêm minh, đặc biệt khi xử lý đối với các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế nhà nước.
Thứ tư, các hình thức chế tài: Mặc dù Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý VPPL trong lĩnh vực BVMT đã quy định khá chi tiết về các hành vi vi phạm cũng như biện pháp xử lý với mức phạt tăng lên rất nhiều lần so với quy định trước đây. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số hình thức chế tài quá nhẹ, không đủ sức răn đe. Thực tiễn áp dụng một số quy định về trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự đối với VPPL về BVMT còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Các quy định về trách nhiệm xác định, giám định, đền bù định, đền bù thiệt hại còn chưa rõ ràng và không khả thi. Vì vậy, trên thực tế có nhiều doanh nghiệp thay bằng việc đầu tư trang thiết bị xử lý chất thải bằng việc chấp nhận các hình thức xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.
Thứ năm, nhu cầu phát triển kinh tế và giải quyết công ăn việc làm của người lao động đã làm cho việc phát hiện, xử lý các VPPL gặp nhiều khó khăn, cản trở và áp lực từ phía các hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ trong nhiều trường hợp cụ thể. Ở nhiều địa phương, do chính sách ưu tiên phát triển kinh tế nên đã kêu gọi đầu tư dàn trải, cấp phép kinh doanh ồ ạt, không quan tâm đến việc thẩm định, đánh giá ảnh hưởng của các dự án đối vói môi trường, đặc biệt là các dự án thuộc lĩnh vực trọng điểm.
Kết luận
Nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về BVMT, Bộ Tư pháp đã kiến nghị với Chính phủ trong thời gian tới cần xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về BVMT. Tiếp đến là bảo đảm các điều kiện cần thiết cho công tác thi hành pháp luật, cụ thể như tăng cường công tác truyền thông và nâng cao nhận thức về BVMT nói chung và pháp luật về BVMT nói riêng; Xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về môi trường. Cuối cùng là tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện và xử lý nghiêm minh các VPPL. Ngoài ra, cũng cần nghiên cứu, thiết lập cơ chế theo hướng xã hội hóa, huy động rộng rãi các cơ quan, tổ chức đoàn thể và cá nhân tham gia công tác BVMT; có cơ chế ưu đãi và tạo cơ chế cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội, các địa phương tự đề ra giải pháp xử lý ô nhiễm ở đơn vị, doanh nghiệp, địa phương mình.