Nguồn phát sinh, khối lương và thành phàn CTR y tếHầu hết, các CTR y tế là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù, nếu không được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế dược (Bảng 1).

Hiện trên cả nước, lượng CTR trung bình thải ra mỗi ngày là 0,86kg/giường bệnh, trong đó, CTR y tế là 0,14kg/giường bệnh. Tổng lượng CTR ở các BV trên toàn quốc lên tới 100 tấn và 16 tấn CTR y tế cần được xử lý. Tỷ lệ này khác nhau giữa các BV, tùy thuộc số giường bệnh, BV chuyên khoa hay đa khoa, các thủ thuật chuyên môn được thực hiện tại BV, số lượng vật tư tiêu hao được sử dụng... (Bảng 2).
Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các loại cơ sở y tế khác nhau được thể hiện ở Bảng 3.

Sự gia tăng chất thải y tế ở một số địa phương từ 2005 - 2009 được thể hiện (Hình 1)

CTR y tế ngày càng gia tăng, nguyên nhân do: Số lượng cơ sở y tế và số giường bệnh tăng; Thực hành y học hiện đại với nhiều phương pháp chuẩn đoán và điều trị mới, tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần; Dân số tăng, người dân được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế. Trong số các cơ sở phát sinh chất thải y tế thì nguồn phát sinh chủ yếu là các BV; các cơ sở y tế khác như: Trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu...; Trung tâm xét nghiệm và các Labo nghiên cứu y sinh học; Các ngân hàng máu...
Thành phần và tính chất của CTR y tế bao gồm: Kim tiêm, bom tiêm kèm kim tiêm, thiết bị giải phẫu, mô tế bào người hoặc động vật, xương, nội tạng, bình, túi hoặc ống dẫn chứa các chất lỏng từ cơ thể, các vật dụng và vật chất khác bị loại bỏ trong quá trình thăm khám và điều trị chuyên khoa... có nguy cơ tiềm tàng đối với sức khỏe của con người, khi tiếp xúc với chúng. Bảng 4 trình bày kết quả khảo sát của Viện Khoa học và Kỹ Thuật môi trường về thành phần của chất thải ở một số BV đa khoa tại miền Bắc và miền Trung.
Thực trạng quản lý CTR từ hoạt động của BV
Những năm qua, công tác quản lý chất thải BV còn nhiều bất cập. Cụ thể, việc phân loại CTR y tế chưa đúng quy định, trong cơ sở y tế, hầu hết cán bộ đều phải thục hiện 1 hoặc toàn bộ quy trình xử lý CTR y tế. Mặc dù, các BV đã tổ chức tập huấn, hướng dẫn cho cán bộ, nhưng việc kiểm tra chưa thường xuyên. Các BV chưa có phương tiện thu gom và phân loại rác thích hợp để giảm thiểu chi phí, nhân viên thu gom rác chưa có kiến thức cơ bản để phân loại rác, chưa nhận thức đúng nguy cơ của chất thải BV. Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêu chuẩn. Phương tiện vận chuyển chất thải thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng. Vận chuyển chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ BV, cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm.
Ngoài ra, việc xử lý và tiêu huy CTR y tế nguy hại cũng gặp nhiều khó khăn, trừ một số thành phố lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh có xí nghiệp xử lý vận hành tốt, tổ chúc thu gom và tiêu huy CTR y tế nguy hại cho toàn bộ cơ sở y tế trên địa bàn. Còn tại các tỉnh, thành phố khác, CTR y tế nguy hại được xử lý và tiêu huy với những mức độ khác nhau. Ví dụ: Thái Nguyên, Hải Phòng, Cần Thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm BV, chủ động chuyển giao lò đốt cho Công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành và thu gom, xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Có nơi, lò đốt đặt tại BV tỉnh cũng xử lý CTR y tế nguy hại cho các B V khác thuộc địa bàn thành phố, thị xã (Nghệ An); Một số nơi khác, việc kiểm soát khí thải lò đốt còn gặp khó khăn, do nhiều lò đốt đặt tại BV, người dân và bệnh nhân phản đối, cản trở vận hành lò đốt, vì có mùi khó chịu của khí thải (Thanh Hóa, Thái Bình...), một số lò đốt hiện phải ngừng hoạt động. Một số lò đốt không đạt tiêu chuẩn về nhiệt độ buồng đốt thứ cấp và khí thải lò đốt vượt mức tiêu chuẩn cho phép. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới cũng như các chuyên gia cần nghiên cứu và triển khai, áp dụng các công nghệ không đốt (thiết bị khử khuẩn bằng nhiệt ướt hoặc vi sóng), thân thiện hơn với môi trường, chi phí vận hành lại rẻ hơn phương pháp đốt và tăng cơ hội tái chế chất thải. Nhưng hiện nay, ở nước ta vẫn còn thiếu các cơ sở tái chế chất thải, mặc dù, có rất nhiều những vật liệu từ chất thải BV như chai dịch truyền chứa dung dịch huyết thanh ngọt (đường glucose 5%, 20%), huyết thanh mặn (NaCl 0,9%), các dung dịch acide amine; các loại bao gói nilon và một số chất nhựa khác; các vật liệu giấy, thủy tinh... là hoàn toàn không có yếu tố nguy hại, có thể tái chế để hạn chế việc thiêu đốt chất thải gây ô nhiễm, đồng thời là nguồn thu để BV tái đầu tư cho xử lý chất thải. Trong Quy chế quản lý chất thải y tế (2007) đã bổ sung nội dung tái chế CTR y tế không nguy hại làm căn cứ để các cơ sở y tế thực hiện. Tuy nhiên, nhiều địa phương chưa có cơ sở tái chế, do vậy, việc quản lý tái chế các chất thải y tế không nguy hại còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt là thiếu nguồn kinh phí đầu tư, xây dựng và vận hành hệ thống xử lý chất thải, trong khi tổng chi phí cho xử lý CTR là tương đối lớn. Chi phí cho vận hành xử lý chất thải y tế chiếm đến 5% ngân sách Nhà nước cấp cho cơ sở y tế. Hơn nữa, kinh phí đầu tư xây mới, cải tạo B V còn hạn chế, nên tiến độ thực hiện của các BV còn chậm.
Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý CTR
Những năm qua, đã có hàng loạt các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, quản lý chất thải y tế được ban hành, tạo căn cứ pháp lý cho các cấp cơ sở quản lý chất thải y tế tại địa phương. Trong đó, Bộ Y tế đã ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT quy định chi tiết về xác định chất thải, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, xử lý, tiêu hủy chất thải. Quy chế đã đưa ra các nguyên tắc và điều khoản về kỹ thuật cho từng bước quản lý chất thải nguy hại (phân loại, cô lập, mã màu sắc các phương tiện thu gom chất thải nguy hại, vận chuyển, lưu giữ chất thải nguy hại....). Trong đó có các công nghệ xử lý CTR được sử dụng rộng rãi hiện nay, là những công nghệ thân thiện với môi trường như hấp khử khuẩn, vi sóng, giúp cho việc áp dụng quy trình tái chế chất thải, hạn chế thiêu đốt (nguồn chính phát sinh khí thải độc hại vào môi trường).
Những giải pháp về xử lý chất thải BV có thể áp dụng như:
- Cô lập CTR y tế nguy hại tại nguồn và giảm thiểu CTR y tế nguy hại: Chất thải trong các cơ sở y tế được chia ra làm 5 nhóm gồm: Lây nhiễm; Hóa học nguy hại; Phóng xạ; Bình chứa áp suất và Chất thải thông thường. Việc cô lập các nhóm chất thải này có thể được dựa trên tính nguy hại của chất thải, đặc biệt, với nhóm chất thải lây nhiễm.
- Cải tiến, tận dụng lò đốt đã được trang bị: Các lò đốt CTR y tế hiện nay chủ yếu có công suất nhỏ (dưới 200kg/h), thiết bị làm sạch khí không hiệu quả và không tiết kiệm được chi phí. Trong khi, công nghệ thiêu đốt CTR y tế là một trong những nguồn phát sinh chủ yếu dioxin, furan, thủy ngân, chì và nhiều chất độc hại khác. Vì vậy, đối với các lò đốt không có bộ phận xử lý khí thải cần được đầu tư nâng cấp và lắp đặt thêm bộ phận xử lý khí thải. Khi các lò đốt hết thời gian sử dụng thì thay thế bằng công nghệ không đốt (khử khuẩn).
- Việc ứng dụng các công nghệ thay thế công nghệ thiêu đốt để xử lý CTR y tế là rất cần thiết, phù hợp với xu hướng của thế giới. Trước khi xử lý, chất thải cần được phân luồng (Hình 2).

Các kỹ thuật xử lý chất thải BV theo nguyên lý công nghệ không đốt như sau: Công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt âm (Autoclave): Bản chất của công nghệ này là tạo ra môi trường hơi nước nóng, với áp suất cao để khử tiệt khuẩn chất thải y tế. Chất thải phải được nghiền, cắt nhỏ trước hoặc trong quá trình xử lý bằng nhiệt ẩm thì mới đạt được hiệu quả khử khuẩn nhất định. Thiết bị nghiền, cắt có thể được thiết kế tách ròi hoặc nằm trong hệ thống xử lý bằng nhiệt ẩm. Thiết bị nghiền, cắt tách rời sẽ không an toàn, vì rất dễ dàng phát tán mầm bệnh cho người vận hành do nghiền và vận chuyển chất thải vẫn còn lây nhiễm, đồng thời, phải làm sạch thiết bị nghiền cắt thường xuyên. Thiết bị nghiền cắt nằm bên trong thiết bị khử khuẩn, gặp khó khăn về công suất không phù hợp, năng suất thực tế và về chí phí. Công nghệ này thường phải sử dụng thêm hóa chất để đảm bảo hiệu quả khử, tiệt khuẩn được ổn định, vì thế, làm tăng chi phí vận hành của hệ thống.
Công nghệ sử dụng vi sóng: gồm 2 loại công nghệ, đó là sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện áp suất bình thường và sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa trong điều kiện nhiệt độ áp suất cao. Sau khi xử lý khử khuẩn, máy nghiền cắt đều được khuyến khích sử dụng như thiết bị chọn lựa trong hệ thống. Loại sử dụng vi sóng thuần túy trong điều kiện môi trường thông thường là tạo ra điều kiện khử tiệt khuẩn ở nhiệt độ khoảng 100°C, với áp suất không khí thông thường. Do vậy, hệ thống vận hành đơn giản hơn nhưng sẽ tốn nhiều thời gian xử lý cho mỗi mẻ, đồng thời hiệu quả khử tiệt khuẩn đạt mức 99,9%. Công nghệ này đã được áp dụng ở các nước đang phát triển.
Loại công nghệ sử dụng vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa được áp dụng tại các nước công nghiệp phát triển và một số nước đang phát triển nhiều năm qua. Đây là loại công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, bởi có hiệu quả khử tiệt khuẩn cao và thời gian xử lý nhanh.
Quá trình hút không khí tạo ra môi trường chân không trong khoang xử lý chứa chất thải, trước khi cấp hơi nước có tác dụng làm hơi nước thấm sâu và làm ướt mọi bề mặt chất thải, kể cả trong lòng khối chất thải, hay các vật thể có cấu trúc "phức tạp" - nhỏ dài và hẹp như kim tiêm. Việc làm ẩm bề mặt này có tác dụng giúp năng lượng nhiệt do vi sóng tạo ra làm nóng chất thải từ trong ra, kết hợp với nhiệt độ và áp suất cao sẽ có tác dụng phá hủy cấu trúc tế bào và tiêu diệt tất cả các loại mầm bệnh (vi khuẩn, virút, nha bào, kí sinh trùng ...) có trong chất thải. Nhờ đó, sau khi xử lý, chất thải lây nhiễm trở thành chất thải thông thường mà không bị phá hủy, rất thích hợp cho việc tận dụng để tái chế.
Toàn bộ quy trình hoạt động của công nghệ vi sóng kết hợp hơi nước bão hòa đều không tạo ra khói bụi, không xả nước thải, cũng không sử dụng hóa chất khử tiệt trùng, nên hoàn toàn thân thiện với môi trường.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế, WHO , 2009. Bản dự thảo Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý chất thải bệnh viện.
2. Quyết định số 30/2008/QĐ-TTg ngày 22/2/2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển mạng lưới khám chữa bệnh đến 2010.
3. Nguyễn Thị Kim Thái, Trung tâm Kỹ thuật môi trường đô thị & Khu công nghiệp (2007) Báo cáo đề tài: "Xây dựng tiêu chuẩn thu gom, lưu giữ, vận chuyến, xử lý và tiêu huy chất thải nguy hại"; Báo cáo kết quả khảo sát chất thải từ 36 bệnh viện Hà Nội; Nghiên cứu đề xuất các giải pháp xử lý chất thải bệnh viện ở Hà Nội (1998).
Hospital waste management in Viel Nam: slatus and orienlalions
Ass.Prof. Dr. Nguyễn Thị Kim Thái
Environment Science and Engineering - Construction University
As of 2008, there are 13,506 medical facilities with more than 200,000 beds. Among those, there are 774 general hospitals, 136 specialising hospitals, 5 sector hospitals and 83 private hospitals. Consequent to increasing hospitals is increasing medical solid waste. This paper present current status of medical waste, focusing on hospital solidvvaste. Some solutions are recommended.