Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 5, 24/7/2014, 18h:56:42
Quản lý chất thải rắn - Những điều còn bất cập
3/29/2012 2:53:15 PM
Lò đốt rác y tế ở một số bệnh viện, đặc biệt là tuyến huyện, xã không được sử dụng vì thiếu kinh phí vận hành
Trong những năm qua, công tác quản lý chất thải rắn (CTR) đã đạt được nhiều kết quả khả quan. Nhiều chính sách, chiến lược về quản lý CTR được ban hành thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Tổ chức các cơ quan quản lý về CTR cũng đang từng bước hoàn thiện, nhiều mô hình quản lý tại một số địa phương đã cho thấy những kết quả tốt. Vai trò của các đơn vị/tổ chức tư nhân cùng tham gia công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR ngày càng được khẳng định. Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về quản lý CTR cũng được tăng cường... Vấn đề đầu tư tài chính, hợp tác quốc tế và xã hội hóa công tác thu gom, xử lý CTR đã có những thành công nhất định.
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn rất nhiều bất cập và khó khăn bắt nguồn từ sự thiếu rõ ràng trong các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật, sự chồng chéo trong hệ thống tổ chức quản lý, thiếu sự đầu tư đồng bộ dẫn đến công tác triển khai, thực hiện chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Điểm lại trong giai đoạn 2007 - 2011, công tác quản lý CTR ở nước ta nổi lên một số vấn đề bất cập…
Thể chế và chính sách về quản lý CTR chưa hoàn thiện, triển khai chưa triệt để
Trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách và quy định trong lĩnh vực quản lý CTR và chất thải nguy hại. Hệ thống thể chế, chính sách trong quản lý CTR đã có những bước tiến bộ đáng ghi nhận. Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật còn chưa đầy đủ, đồng bộ hoặc còn chồng chéo; chưa có một quy định thống nhất, toàn diện cho công tác quy hoạch quản lý CTR quốc gia.
Ở Trung ương cũng như các địa phương không có tổ chức đầu mối chung về quản lý CTR. Các văn bản, quy chuẩn quy phạm, quy định, kế hoạch tài chính... về quản lý CTR do nhiều Bộ ban hành. Thiếu cơ quan tập trung quản lý thông tin, dữ liệu về quản lý CTR ở cấp Trung ương, cũng như cấp địa phương.
Thêm vào đó, công tác kiểm tra, thanh tra thực thi pháp luật còn nhiều yếu kém, các chế tài quy định về xử phạt đối với các hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường (BVMT) đối với CTR còn chưa đủ sức răn đe, các quy định về thi hành cưỡng chế chưa được áp dụng triệt để, dẫn đến hiệu quả quản lý chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Đơn cử như việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 về chế tài xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, trong đó có quy định về mức phạt đối với hành vi xả chất thải gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Tuy nhiên, các mức thi hành cưỡng chế, xử phạt còn nhẹ chưa đủ sức răn đe, nên hiệu quả của công tác quản lý chất thải, đặc biệt là công tác quản lý CTR chưa cao. Các hành vi đổ rác thải bừa bãi vẫn liên tục xảy ra tại nhiều nơi trên cả nước.
Phân công, phân nhiệm quản lý CTR còn phân tán, chồng chéo và nhiều lỗ hổng
Ở cấp Trung ương, Bộ Xây dựng là cơ quan phụ trách về quản lý CTR đô thị. Tuy nhiên, các Bộ ngành khác cũng được phân công trách nhiệm quản lý CTR của ngành như: Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TN&MT) chịu trách nhiệm quản lý chất thải nguy hại, Bộ Y tế quản lý CTR y tế, Bộ Công Thương quản lý CTR công nghiệp... Chính từ sự chồng chéo, chưa rõ ràng trong chức năng quản lý của các Bộ/ngành, dẫn đến những chồng chéo trong việc triển khai các chương trình quản lý CTR ở cấp quốc gia và tương tự ở cấp địa phương. Ngoài ra, đối với chất thải sinh hoạt ở vùng nông thôn, đặc biệt là chất thải ở các làng nghề, vẫn chưa xác định thuộc quyền quản lý của Bộ Xây dựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hay Bộ TN&MT. Đây cũng là một trong những lỗ hổng lớn trong công tác quản lý CTR ở cấp Trung ương.
Ở cấp địa phương, đơn vị được giao là cơ quan đầu mối quản lý CTR cũng không thống nhất. Tùy theo quy định của mỗi địa phương, công tác quản lý CTR có thể được giao cho Sở Xây dựng (ví dụ như Hà Nội, Hải Phòng, Huế...) hoặc Ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp chỉ đạo (như TP. Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh...). Hầu hết, các địa phương hiện nay, Sở TN&MT chỉ có trách nhiệm quản lý CTR về mặt chuyên môn, chỉ tham gia khi có phát sinh ô nhiễm môi trường. Chính điều này đã khiến cho công tác quản lý CTR khó tìm được tiếng nói chung.
Tỷ lệ thu gom, phân loại và xử lý CTR đúng kỹ thuật vệ sinh còn thấp
Hiện nay, tỷ lệ thu gom CTR trung bình tại các đô thị trên cả nước đạt 85%, ở khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng 40 - 50%, trong khi đó lượng chất thải phát sinh tăng hàng năm trên 5%. Mức độ thu gom chất thải cũng khác nhau ở các khu vực. Tại các khu vực trung tâm đô thị, tỷ lệ thu gom đạt gần 100%. Tuy nhiên, ở các khu vực ngoại thành, tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 50%. Thêm vào đó, vấn đề đầu tư, xây dựng các trạm trung chuyển và trang thiết bị, công nghệ xử lý CTR tại các đô thị chưa thực sự được quan tâm đầu tư, nhân lực tập trung cho công tác này còn thiếu và yếu. Tỷ lệ xử lý CTR bằng phương pháp chôn lấp còn cao (60%), trong khi đó, chỉ có 16/98 bãi chôn lấp chất thải tập trung được coi là hợp vệ sinh. Tất cả những điều đó đã dẫn đến hiệu quả phân loại cũng như xử lý CTR đúng kỹ thuật vệ sinh còn rất thấp. Việc thu gom, xử lý CTR y tế, CTR công nghiệp và đặc biệt là chất thải nguy hại còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc.
Thực hiện Chương trình 3T (hay 3R) trong quản lý CTR còn manh mún
Hiện nay, việc triển khai các chương trình/dự án 3T (Tiết giảm, Tái sử dụng, Tái chế) mới chỉ dừng ở những mô hình trình diễn, thí điểm tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng. Kết quả thu được chưa thực sự hiệu quả do kế hoạch triển khai, cũng như việc phân bổ thời gian và kinh phí chưa hợp lý, nhiều hạng mục triển khai không phù hợp với điều kiện thực tế cũng như nếp sống và sinh hoạt của người dân. Thêm vào đó, các tổ chức quản lý và dịch vụ môi trường về CTR chưa xây dựng được phương pháp quản lý CTR phù hợp với thực hiện chương trình 3T, nhân dân chưa xây dựng được nếp sống, nếp sinh hoạt phù hợp với 3T đã dẫn đến kết quả là sau một thời gian thí điểm, chương trình phải dừng hoạt động, kết thúc kinh phí tài trợ của chương trình thì hoạt động của chương trình cũng kết thúc, không duy trì, phát triển nhân rộng sang những nơi khác. Ngoài ra, các dự án đã triển khai cũng chưa có những báo cáo đánh giá tính phù hợp, tính khả thi, bài học kinh nghiệm được rút ra từ các chương trình đó để có thể triển khai nhân rộng trên phạm vi cả nước.
Xã hội hóa, tư nhân hóa và huy động cộng đồng tham gia còn yếu kém
Từ lâu, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương, đường lối “xã hội hóa công tác BVMT”, trong đó có xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR, nhưng thực tế vẫn còn thiếu nhiều văn bản và cơ chế để cụ thể hóa chủ trương này. Đặc biệt là chưa có chế tài phù hợp đối với công tác xã hội hóa, tư nhân hóa đối với hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý CTR, nên chưa thực sự thu hút được nhiều sự tham gia của các đoàn thể quần chúng, của toàn xã hội đặc biệt là thu hút sự tham gia của các nhóm đối tượng liên quan. Các cấp chính quyền cũng chưa có nhiều chương trình huy động sự tham gia của cộng đồng trong quản lý CTR.
Thêm vào đó, người dân vẫn còn tư tưởng “thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải là trách nhiệm của các nhà quản lý”. Nhận thức và năng lực của cộng đồng chưa đảm bảo để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý CTR nói riêng, đặc biệt là ở các khu vực tập trung đông dân nghèo.
Một vấn đề nảy sinh khác, đó là nhiều Công ty Môi trường đô thị không muốn tư nhân hóa mà vẫn muốn duy trì hình thức hoạt động công ích của nhà nước, đồng thời lại muốn độc quyền quản lý CTR ở địa phương. Dẫn đến công tác thu gom, xử lý CTR của địa phương không đạt hiệu quả cao.
Công nghệ xử lý CTR, tái chế, tái sử dụng CTR còn lạc hậu và chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam
Nhìn chung, công nghệ xử lý CTR hiện nay của nước ta còn khá lạc hậu, nhiều công nghệ được nhập khẩu từ nước ngoài chưa phù hợp với hiện trạng CTR ở nước ta. Đa phần các công nghệ nhập về có hiệu quả xử lý thấp, vòng đời ngắn, tác động trở lại, gây ô nhiễm môi trường.
Tại một số địa phương, đã triển khai áp dụng một số công nghệ xử lý CTR sinh hoạt nội địa như: công nghệ Seraphin (đến nay hầu như đã thất bại), công nghệ An – Sinh – ASC, công nghệ ép viên nhiên liệu… Tuy nhiên, việc triển khai mới chỉ dừng ở mức thí điểm, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế.
Các hoạt động tái chế rác cũng chưa được triển khai ở quy mô rộng. Trong những năm qua, một số nhà máy chế biến phân compost từ rác thải được đầu tư xây dựng với kinh phí lớn nhưng hoạt động lại kém hiệu quả. Ngoài ra, một số hoạt động tái chế rác hình thành tự phát như trường hợp các cơ sở tái chế tư nhân hoặc làng nghề tái chế phế liệu hình thành trong các khu dân cư còn là nguồn gây ô nhiễm môi trường.
Đối với vấn đề áp dụng công nghệ xử lý chất thải nguy hại, tính đến tháng 10/2010, ở cấp Trung ương đã cấp phép hành nghề xử lý, tiêu hủy CTR nguy hại liên tỉnh cho 36 cơ sở. Chưa kể còn có các cơ sở do các Sở TN&MT các tỉnh, thành phố cấp phép. Theo các báo cáo đánh giá, hầu hết các công nghệ xử lý chất thải nguy hại đã được cấp phép đều đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành, đảm bảo hiệu quả xử lý. Tuy nhiên, đây là kết quả do các cơ sở tự giám sát hoặc kết quả giám sát khi có các đoàn thanh tra, kiểm tra nên cũng chưa phản ánh đầy đủ được thực chất công tác xử lý chất thải nguy hại tại các cơ sở.
Kinh phí đầu tư cho quản lý CTR chưa đáp ứng yêu cầu
Nhìn chung, kinh phí đầu tư cho công tác quản lý CTR chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Tổng thu từ các loại phí dịch vụ quản lý CTR chỉ chiếm khoảng 60% tổng chi phí vận hành, duy tu và bảo dưỡng hệ thống quản lý, trong đó hơn 90% là dành cho hoạt động thu gom và vận chuyển chất thải. Do vậy, chi phí dành cho xử lý, tiêu huỷ chất thải là không hợp lý và rất thấp. Kinh phí đầu tư cho các nhà máy ủ rác (loại hình hoạt động phổ biến ở nước ta) là rất thấp.
Quỹ BVMT Việt Nam cũng là một trong những nguồn đã hỗ trợ khá nhiều cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR trong những năm qua. Tuy nhiên, nguồn vốn từ Quỹ BVMT chưa đáp ứng đủ nhu cầu thực tế, nguồn bổ sung hàng năm cho Quỹ là không đáng kể. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ xử lý môi trường thường chưa đủ điều kiện đảm bảo vốn vay hoặc thế chấp để tiếp cận với Quỹ.
Ngoài ra, ở nhiều bệnh viện, đặc biệt là các bệnh viện tuyến huyện, xã, tuy đã đầu tư trang bị các lò đốt rác y tế, nhưng không hoạt động được vì thiếu kinh phí cho vận hành.
Nhận thức của cộng đồng  còn thấp
Ý thức của cộng đồng dân cư đối với công tác quản lý CTR, giữ gìn vệ sinh công cộng còn rất thấp. Người dân thường xả rác ra đường, cống rãnh, đặc biệt là hiện tượng đổ trộm CTR xây dựng ra bờ sông, cống rãnh... dẫn đến tình trạng ngập úng khi có mưa to, và cũng gây ra những tác động tiêu cực đến vệ sinh môi trường và cảnh quan đô thị. Ý thức tham gia chương trình 3T của nhân dân còn thấp. Không ít trường hợp còn trốn tránh, không nộp phí vệ sinh, tuy rằng phí vệ sinh mới chỉ đảm bảo khoảng 30 – 50% chi phí quản lý CTR thực tế.
Có thể thấy rằng, để công tác quản lý CTR đạt được hiệu quả như mong đợi thì phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Bắt đầu từ việc hoàn thiện hệ thống chính sách, văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, phân công đủ, đúng, rõ trách nhiệm của các đơn vị từ Trung ương đến địa phương. Ngoài ra, cần chú trọng tới việc thực hiện chương trình 3T, xã hội hóa công tác thu gom, xử lý CTR, đầu tư tài chính, đổi mới công nghệ xử lý CTR… Song song với đó là tăng cường công tác giám sát, thực thi trách nhiệm và các hình thức xử phạt cần được thực hiện nghiêm túc và đầy đủ.
Nguyễn Văn Thùy, Lê Hoàng Anh, Mạc Thị Minh Trà - Trung tâm Quan trắc môi trường, Tổng cục Môi trường
TCMT 02/2012
Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung