Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 3, 13/11/2018, 2h:35:0
Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường > Trang chủ > Truyền thông > Tạp chí môi trường > Nghiên cứu và trao đổi > Lãng phí tài nguyên trong khai thác chế biến và sử dụng khoáng sản ở Việt Nam và giải pháp giảm thiểu
Lãng phí tài nguyên trong khai thác chế biến và sử dụng khoáng sản ở Việt Nam và giải pháp giảm thiểu
1/31/2013 11:04:50 AM
Tài nguyên khoáng sản (TNKS) là một trong các nguồn lực quan trọng trong hoạch định chính sách phát triển của các quốc gia, tuy nhiên chỉ có một số ít các quốc gia và vùng lãnh thổ có tiềm năng về TNKS. Số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới trong các năm từ 2007 đến 2010 [ 1 ] cho thấy chỉ có 46 trong số 213 quốc gia và vùng lãnh thổ có thu nhập từ TNKS chiếm trên 10% GDP, trong đó Việt Nam, có tỷ lệ tương ứng 13.9%, 15.0%, 8.6%, 10.4% trong các năm 2007 - 2010. Hội thảo khoa học "Quản lý khai thác khoáng sản" do Quốc hội tổ chức ngày 2/3/2012 [2, 3] và nhiều báo cáo khác đã nêu lên tình trạng ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản ở Việt Nam, cũng như tổn thất khoáng sản cao trong khai thác, chế biến khoáng sản, tình trạng xuất khẩu thô TNKS đang gây ra nhiều bức xúc trong dư luận
Đặt vấn dề
Hiện trạng lãng phí tài nguyên trong khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản ở Việt Nam hiện nay
Tổn thất hay lãng phí TNKS thường tổn tại trong ba khâu quan trọng: khai thác khoáng sản, chế biến khoáng sản và sử dụng khoáng sản. Theo các số liệu đã công bố [2], tổn thất khoáng sản trong khai thác các mỏ than thường chiếm tới 50% trữ lượng công nghiệp của các mỏ than. Đối với các mỏ than antraxit vùng Quảng Ninh, trữ lượng công nghiệp thường chỉ chiếm 50% trữ lượng địa chất mỏ, vì vậy khai thác than tại Quảng Ninh đang làm mất đi trữ lượng địa chất rất lớn. Chúng ta mới khai thác được 25% trữ lượng địa chất của mỏ và 50% trữ lượng công nghiệp của các mỏ than. Các con số này thấp hơn nhiều các con số tương ứng ở các nước phát triển. Có nhiều nguyên nhân được nêu để giải thích cho sự tổn thất tài nguyên trong khai thác than vùng Quảng Ninh như: cấu trúc địa chất mỏ phức tạp, công nghệ khai thác chưa đáp ứng yêu cầu, chính sách và cơ chế quản lý chưa phù hợp. Ngoài ra, theo quy định của Luật Thuế tài nguyên tính tiền thuế phải nộp của doanh nghiệp thông qua lượng khoáng sản đã được doanh nghiệp tiêu thụ ra thị trường. Việc tính thuế tài nguyên khoáng sản theo sản lượng khai thác đầu ra không kích thích doanh nghiệp đầu tư công nghệ và năng lực khai thác hết tiềm năng trữ lượng khoáng sản. Bên cạnh đó, khâu chế biến khoáng sản cũng làm thất thoát một lượng tài nguyên lớn. Chế biến khoáng sản bao gồm hai bước: làm giàu nguyên liệu khoáng sản đáp ứng nhu cầu chế biến sâu và chế biến sâu khoáng sản thành các sản phẩm có giá trị kinh tế cao hơn. Ví dụ: trong tuyển kaolin cán làm giàu nguyên liệu đạt yêu cầu sản xuất gốm sứ và chế biến sâu nguyên liệu kaolin đáp ứng nhu cầu nguyên liệu phủ giấy; chế biến khoáng sản bauxit, đầu tiên là làm giàu quặng nguyên khai đạt yêu cầu đầu vào của dây truyền sản xuất phèn chua hay alumin; tiếp theo là chế biến quặng bauxit thành alumin.
Tổn thất TNKS trong quá trình chế biến thường khá cao, ví dụ tổn thất than trong các nhà máy tuyển than thường xấp xỉ 10% trọng lượng than nguyên khai. Trong quá trình chế biến khoáng sản, một lượng lớn TNKS ban đầu bị thải ra ngoài dưới dạng chất thải rắn - lỏng. Một số trường hợp, giá trị của chất thải rắn, lỏng bị loại bỏ khỏi dây truyền chế biến quặng có giá trị kinh tế cao, chưa được tận dụng. Thực tế, trong tuyển quặng Cromit tại mỏ Cổ Định (Thanh Hóa), một lượng lớn khoáng sét bị thải ra ngoài với thành phần khoáng vật chủ yếu là Nontronit có giá trị sử dụng làm dung dịch khoan. Trong khai thác Inmenit ở các tỉnh ven biển miền Trung, quá trình chế biến quặng Inmentit thu được một lượng lớn quặng Ziacon (ZiSi04) và Monazit (Ce,La,Y,Th)[P04]. Giá trị tài nguyên chứa đựng trong các sản phẩm đi kèm đó có thể so sánh với sản phẩm chính là tinh quặng Inmentit. Vẫn đề bất cập hiện nay trong chế biến khoáng sản ở Việt Nam là có rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các sản phẩm phụ và chất thải có thể tận thu trong quá trình chế biến khoáng sản gây lãng phí tài nguyên khoáng sản của đất nước.
Mặt khác, sử dụng khoáng sản cũng tiềm ẩn các nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và lãng phí tài nguyên. Việc đầu tư xây dựng Nhà máy điện Na Dương công suất 100 MW sử dụng hàng năm 500.000 tấn than nâu Na Dương có hàm lượng lưu huỳnh cao (3-5%) đang làm mất đi lượng lưu huỳnh từ 15.000 đến 25.000 tấn mỗi năm, đồng thời gây ô nhiễm SO2 cho khu vực thị trấn. Nếu được đầu tư công nghệ thích hợp, từ khí thải của Nhà máy nhiệt điện Na Dương có thế thu hồi hàng chục nghìn tấn thạch cao công nghiệp phục vụ cho sản xuất xi măng. Việc khai thác than Nông Sơn chứa hàm lượng khá cao nguyên tố phóng xạ (u, Th) đang làm mất đi một lượng nguyên liệu phóng xạ quý, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm phóng xạ cho các khu vực xung quanh. Hoạt động sản xuất Super phốt pho tại Lâm Thao, Phú Thọ đang thải ra sông Hồng hàng nghìn tấn nguyên liệu F dưới dạng Na2SiFe, gấy ô nhiễm môi trường nước và hệ sinh thái sông. Như vậy, bên cạnh một lượng rất lớn nguyên liệu khoáng sản có chất lượng thấp, phát sinh trong quá trình khai thác hiện chưa được sử dụng tại các mỏ; việc sử dụng không hợp lý tài nguyên khoáng sản trong phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều ngành và nhiều địa phương đang gây ra sự lãng phí tài nguyên và tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.
Các giải pháp giảm thiểu tổn thất trong khai thác, chế biến và sử dụng tài nguyên khoáng sản
Nhằm chấn chỉnh công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 09/01/2012 [5] đặt ra các quan điểm và giải pháp:
Khoáng sản là tài nguyên không tái tạo phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả. Công tác điều tra cơ bản, đánh giá khoáng sản phải đi trước một bước để làm rõ tiềm năng, giá trị phục vụ cho việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng trong từng thời kỳ;
Thăm dò, khai thác khoáng sản phải tính đến nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài của đất nước nhằm đạt hiệu quả kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm an ninh - quốc phòng, BVMT, cảnh quan, di tích lịch sử, văn hóa; khai thác khoáng sản nhất thiết phải gắn với chế biến sâu, sử dụng phù hợp với tiềm năng, giá trị của từng loại khoáng sản;
Chế biến khoáng sản phải sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Các dự án khai thác, chế biến khoáng sản chỉ được xem xét cấp phép khi đã có dự án đầu tư và được Hội đồng thẩm định của các Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng và UBND các địa phương thẩm định theo thẩm quyền, dự án phải áp dụng công nghệ chế biến tiên tiến và tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên. Đối với những khoáng sản chứa có công nghệ chế biến hiện đại, bảo đảm hiệu quả thì kiên quyết dừng lại chưa khai thác;
Việc xuất khẩu khoáng sản phải tuân thủ theo quy định của Chính phủ, không xuất khẩu khoáng sản thô;
Quy hoạch khoáng sản của đất nước phải phù hợp với Chiến lược khoáng sản trong từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản của các địa phương phải phù hợp với Quy hoạch khoáng sản chung của cả nước và Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương; Cần có chủ trương thăm dò, khai thác, xuất khẩu một số khoáng sản quan trọng: than, quặng Bauxit, quặng Titan, quặng Cromit, quặng Mangan, quặng vàng - đồng, quặng Apatit, quặng đất hiếm, đá hoa trắng...
Bên cạnh các định hướng về quan điểm và giải pháp đã nêu, việc đánh giá toàn diện hiện trạng tổn thất/lãngphí trong khai thác, chế biến và sử dụng TNKS và nghiên cứu hoàn thiện công cụ kinh tế và cơ chế quản lý hoạt động khoáng sản là nhiệm vụ cấp thiết của các ngành, các cấp để nâng cao thu nhập GDP từ hoạt động khoáng sản của đất nước.
Tài liệu tham khảo
1.World Banh The changing Wealth of Nations: Measuring Sustainable Development in the New) Millennium, 2011.
2.Nguyễn Thành Sơn, Thực trạng chính sách và đề xuất định hướng quản lý, sử dụng bền vững khoáng sản Việt Nam; Báo cáo hội thảo "Quản lý khai thác khoáng sản", Hà Nội, 02/03/2012.
3.Nguyễn Khắc Vinh, Nhìn nhận tài nguyên khoáng sản Việt Nam trong bối cảnh khoáng sản Thế giới; Báo cáo Hội thảo "Quản lý khai thác khoáng sản", Hà Nội, 02/03/2012.
4.Lưu Đức Hải, Nghiên cứu sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý tài nguyên và môi trường hoạt động khai thác than, Tuyển tập báo cáo Hội nghị Môi trường toàn quốc, Hà Nội, 1998.
5.Chỉ thị của Thủ tưởng chính phủ về việc tăng cường công tắc quản lý Nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản; số 02/CT-TTg, ngày 09/01/2012.
PGS.TS Lưu Đức Hải - Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN
Chuyên đề khai thác khoáng sản gắn với BVMT
Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung