Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 5, 20/6/2013, 17h:53:38

Trong những năm gần đây, công tác quản lý khoáng sản và BVMT trong lĩnh vực khoáng sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An có nhiều chuyển biến tích cực, hệ thống cơ chế chính sách từng bước được xây dựng và hoàn thiện, phục vụ ngày càng có hiệu quả trong công tác BVMT cũng như mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH).

Theo báo cáo của Sở TN&MT tỉnh Long An, hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh chủ yếu là khai thác chế biến vật liệu xây dựng từ sét gạch ngói. Hiện nay, trên toàn tỉnh có 11 dự án khai thác sét với trữ lượng 14.771.784 m3; tổng trữ lượng sét trên địa bàn tỉnh là 239.309.000 m3 (giai đoạn: 2011 - 2015) và 820.000 m3 (giai đoạn 2016 - 2020); đối với than bùn có tổng trữ lượng là 640.000 tấn (giai đoạn 2011 - 2015) và 50.000 tấn (giai đoạn 2016 - 2020), hiện phân bổ rải rác ở các huyện Đức Huệ, Mộc Hóa, Tẳn Hừng, Tân Thạnh, Thạnh Hóa và chưa có dự án nào khai thác đối với khoáng sản này.

Công tác quản lý, khai thác khoáng sản gắn với BVMT có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội, đã được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo và chỉ đạo từ rất sớm. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976, Đảng đã chỉ rõ cần tập trung vào việc tăng cường công tác điều tra, ưu tiên phát triển công nghiệp khai khoáng gắn với sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và tăng cường công tác BVMT trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.

Việt Nam là quốc gia có nguồn tài nguyên khoáng sản khá đa dạng và phong phú với hơn 60 loại khoáng sản tại hơn 5.000 mỏ, điểm quặng. Một số loại khoáng sản có quy mô trữ lượng lớn ở tầm thế giới, như bauxit, titan, đất hiếm và đá vôi... Trong những năm qua, tình trạng khai thác khoáng sản trái phép diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương, gây thất thoát nguồn thu ngân sách nhà nước, lãng phí tài nguyên thiên nhiên, để lại nhiều hệ lụy, khó khắc phục về môi trưòng.

Việt Nam là quốc gia có tiềm năng về khoáng sản, với khoảng 5.000 mỏ quặng và 60 loại khoáng sản khác nhau. Trong đó, có một số loại khoáng sản lớn về trữ lượng như bauxit, titan, đất hiếm, than và quý về giá trị như dầu mỏ, uranium... Những năm qua, hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế của nhiều địa phương, tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng gây nhiều tác động tới môi trường và sức khỏe cộng đồng.

Nhận thức được vai trò của công tác BVMT trong phát triển bền vững, năm 2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2003/NĐ-CP ngày 13/6/2003 về phí BVMT đối với nước thải (Nghị định 67). Nghị định này đã được sửa đổi, bổ sung 2 lần bằng Nghị định số 04/2007/NĐ-CP ngày 8/1/2007 và Nghị định số 26/2010/NĐ-CP ngày 22/3/2010. Sau gần 9 năm triển khai thực hiện Nghị định 67, bên cạnh những kết quả đạt được, còn một số vướng mắc, tồn tại trong quá trình thực hiện cần được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế.

Ngày 5/8/2012, Bộ trưởng Bộ TN&MT đã ban hành Thông tư số 04/2012/TT-BTNMT quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường (ÔNMT), gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (ÔNMTNT), thay thế nội dung quy định tại mục I và mục II Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT ngày 3/7/2007 của Bộ TN&MT hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ÔNMT cần phải xử lý. Đây là văn bản pháp lý quan trọng để các Bộ, ngành và địa phương tiến hành tổng điều tra, rà soát, lập Kế hoạch xử lý triệt để cơ sở gây ÔNMTNT giai đoạn từ nay đến năm 2020.

[Trang trước]  [Trang sau]
Các tin đã đưa