Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 2, 20/5/2013, 21h:19:55
Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường > Trang chủ > Truyền thông > Tạp chí môi trường > Cơ chế và chính sách > Quản lý chất lượng không khí đô thị tại Việt Nam Những bất cập, tồn tại và giải pháp ưu tiên
Quản lý chất lượng không khí đô thị tại Việt Nam Những bất cập, tồn tại và giải pháp ưu tiên
6/6/2012 2:49:05 PM
Không khí là thành phần môi trường quan trọng đối với sự sống của con người. Biểu hiện của ô nhiễm không khí khó nhận biết hơn ô nhiễm nước và đất, trừ khi nó quá trầm trọng gây hậu quả cho cộng đồng. Thật không may là điều đó đang hiện hữu tại Việt Nam.
Thực trạng chất lượng không khí

Trong những năm trở lại đây, ô nhiễm không khí tại các đô thị của Việt Nam ngày càng có xu hướng gia tăng đến mức báo động như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương... Tuy nồng độ các chất gây ô nhiễm độc hại như SOx, NOx, CO chưa vượt Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường nhưng thông số bụi (PM2.5 và PMio) tại một số địa điểm và thời gian nhất định đã vượt QCVN từ 1-3 lần và có dấu hiệu ngày càng tăng. Có thể thấy rõ, các nguồn gây ô nhiễm không khí đô thị là CO và NOx được sinh ra chủ yếu do quá trình đốt của động cơ phương tiện giao thông; SOx đến từ quá trình sản xuất công nghiệp; Bụi sinh ra từ quá trình sản xuất công nghiệp, khai thác khoáng sản, xây dựng. Với chủ trương di chuyển các cơ sở sản xuất ra ngoại đô, vấn đề SOx có thể không đáng ngại nhưng sự phát triển ngày càng nhanh các phương tiện giao thông và hạ tầng giao thông chưa đảm bảo thì vấn đề ô nhiễm CO và NOx sẽ ngày càng lớn. Đặc biệt, ô nhiễm nghiêm trọng về bụi chủ yếu do các phương tiện chuyên chở vật liệu xây dựng hoặc công trình xây dựng thi công thực hiện chưa tốt các biện pháp che chắn nên vương vãi ra mặt đường được các phương tiện giao thông nghiền nhỏ tạo thành các hạt mịn sinh ra bụi.


Ngoài ra, đã có những nghiên cứu ban đầu về thiệt hại của ô nhiễm không khí tại Việt Nam. Trong 3 năm 2001-2003 có 4.908 trẻ em dưới 15 tuổi điều trị tại khoa Nhi bệnh viện Thanh Nhàn, Hà Nội cho thấy, tỷ lệ mắc hen phế quản của dân cư các quận nội thành mắc cao gấp 1,4 lần các huyện ngoại thành. Năm 2005, GS. Phạm Ngọc Đăng đã công bố kết quả nghiên cứu về ô nhiễm không khí ở Hà Nội gây ra thiệt hại khoảng 1 tỷ đồng Việt Nam mỗi ngày. Trong công bố mới đây nhất của Trường Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội, ước tính con số thiệt hại hàng năm do bụi gây ra khoảng từ 200 đến 500 tỷ đồng/năm.

Trên thế giới, các nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Liên minh châu Âu hay trong khu vực châu Á là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan... được biết đến với bầu không khí trong lành do họ thực hiện quản lý chất lượng không khí tương đối tốt. Các nước này có cơ quan thống nhất quản lý chất lượng không khí, hệ thống văn bản đầy đủ, mạng lưới quan trắc mạnh, thực hiện kiểm kê nguồn thải thường xuyên... Ngược lại, các nước đang phát triển hoặc các nước có nền kinh tế chuyển đổi do áp lực tăng trưởng kinh tế - xã hội thực hiện chưa tốt công tác quản lý chất lượng không khí.
Tại Thái Lan, chỉ có duy nhất Cục Kiểm soát ô nhiễm có chức năng quản lý chất lượng không khí cho toàn quác với khoảng 50 cán bộ chuyên trách.
 
Những bất cập và tồn tại
Tại Việt Nam, khái niệm "quản lý chất lượng không khí" và "kiểm soát ô nhiễm không khí" được hiểu chưa đúng dẫn đến cách tiếp cận về quản lý chất lượng không khí chưa mang tính tổng thể. Có thể hiểu, đặc thù của quản lý chất lượng không khí là một chuỗi các hoạt động bao gồm các hoạt động quản lý chất lượng nhiên liệu, kiểm soát nguồn thải, theo dõi, đánh giá, dự báo chất lượng không khí, đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm không khí... trong khi đó kiểm soát ô nhiễm không khí là tập trung vào ngăn ngừa nguồn gây ô nhiễm.
Tuy nhiên, hiện nay hệ thống cơ quan quản lý môi trường không khí ở nước ta còn chưa rõ ràng trong chức năng nhiệm vụ. Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) 2005 quy định chức năng nhiệm vụ quản lý môi trường nói chung cho Bộ Tài nguyên và Môi trường nhưng những quy định pháp luật về quản lý chất lượng không khí còn chung chung nên khó thực hiện. Trong khi đó, Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược BVMT quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 bao gồm một chương trình ưu tiên "Chương trình cải thiện chất lượng không khí tại Việt Nam" và Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg ngày 12/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch kiểm soát ô nhiễm môi trường quốc gia đến năm 2010 bao gồm Kế hoạch kiểm soát ô nhiễm không khí được giao cho Bộ Giao thông vận tải. Trong chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Giao thông vận tải chỉ kiểm soát khí thải từ phương tiện giao thông.
Một bất cập nữa là chúng ta thiếu các văn bản đặc thù về quản lý chất lượng không khí nói chung và kiểm soát ô nhiễm không khí nói riêng, mặc dù đã có một số QCVN (trước đây là TCVN) về chất lượng không khí xung quanh và khí thải. Trong khi các văn bản quy định về quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại, nước thải, đa dạng sinh học, quan trắc môi trường, thanh tra, kiểm tra... đã có tương đối nhiều. Thậm chí, Việt Nam cũng chưa có kế hoạch quản lý chất lượng không khí cấp Trung ương và địa phương.
Ngoài ra, hệ thống hạ tầng giao thông đô thị của Việt Nam cũng còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu thục tế; Công tác quan trắc chất lượng không khí còn nhiều bất cập, thông tin, cảnh báo chưa tốt; ý thúc chấp hành pháp luật về BVMT và nhận thúc cộng đồng về ô nhiễm và tác hại của ô nhiễm không khí chưa cao.
Tại Nhật Bản, có rất nhiều quy định quản lý chất lượng không khí như Luật cơ bản về biện phấp đối phó ô nhiễm, Luật hạn chế phát thải khói, Luật biện pháp đặc biệt giảm tổng khối lượng Nitơ ôxit do ô tô phát thải ở những khu vực chỉ định...
 
Những giải pháp ưu tiên
Hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật. Trước hết, thông qua sửa đổi Luật BVMT năm 2005, trong đó cần bổ sung khái niệm về quản lý chất lượng không khí, phân định chức năng, nhiệm vụ của các Bộ, ngành rõ ràng hơn. Cùng với đó là việc sửa đổi, bổ sung các cơ chế, quy định nhằm đảm bảo thực thi pháp luật và chính sách khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội tham gia BVMT không khí.
Quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông và hệ thống giao thông công cộng gắn với định hướng phát triển đô thị thân thiện với môi trường.
Tuyên truyền nâng cao nhận thức về sức khỏe môi trường, ý thức BVMT của cộng đồng đồng thời với việc tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BVMT.
Tăng cường và hoàn thiện hệ thống quan trắc môi trường không khí đô thị, thông tin hiện trạng môi trường và cảnh báo cho người dân.
Tăng cường và mở rộng công tác hợp tác quốc tế, hỗ trợ về kinh nghiệm, kỹ thuật và nguồn lực của các Chính phủ, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế về kiểm soát và cải thiện chất lượng không khí.
TS.Đặng Văn Lợi, ThS. Nguyễn Hoàng Đức, ThS. Nguyễn Trường Huynh, Cục Kiểm soát ô nhiễm, Tổng cục Môi trường
TCMT 04/2012
Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung