Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 3, 15/10/2019, 1h:48:25
Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường > Trang chủ > Hợp tác quốc tế > Điều ước quốc tế > Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), 2001 - Phần 1
Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), 2001 - Phần 1
9/30/2009 7:16:07 AM

Các Bên tham gia Công ước,

Công nhận các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy có tính chất độc hại, khó phân hủy, tích lũy sinh học và được phát tán qua môi trường nước, không khí, bởi các loài động vật di cư, xuyên biên giới giữa các nước, rồi lắng đọng và tích lũy trong các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước ở những nơi xa nguồn phát thải chúng,

Nhận thức được các nguy cơ về sức khỏe, nhất là ở các nước đang phát triển, do việc tiếp xúc với các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, đặc biệt là tác động đến phụ nữ và từ đó ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai,

Nhận định các hệ sinh thái Bắc cực và các cộng đồng bản địa đang đặc biệt đối mặt với nguy cơ do quá trình khuếch đại sinh học các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, cũng như sự nhiễm độc thức ăn truyền thống là một vấn đề y tế cộng đồng,

Ý thức được sự cần thiết phải có hành động toàn cầu đối với các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy,

Lưu ý quyết định 19/13 C, ngày 7-2-1997 của Hội đồng Quản trị Chương trình Môi trường Liêp hợp quốc phát động hành động quốc tế nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường bằng các biện pháp sẽ giảm thiểu và/hoặc loại trừ việc phát xả thải các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy,

Nhắc lại các điều khoản thích hợp của những công ước quốc tế về môi trường có liên quan, đặc biệt là Công ước Rotterdam về thủ tục thỏa thuận có thông báo trước đối với một số hóa chất nguy hại và thuốc bảo vệ thực vật trong buôn bán quốc tế và Công ước Basel về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới và tiêu hủy các chất thải nguy hại, kể cả các hiệp định khu vực, được xây dựng theo khuôn khổ Điều 11 của Công ước Basel,

Đồng thời nhắc lại các điều khoản thích hợp của Tuyên ngôn Rio về Môi trường và Phát triển và Chương trình nghị sự 21,

Nhận định công tác phòng ngừa là tinh thần của Công ước này cũng như là nền tảng quan tâm của tất cả các Bên tham gia,

Thừa nhận rằng Công ước này và các hiệp định quốc tế khác về thương mại và môi trường sẽ hỗ trợ cho nhau,

Tái khẳng định rằng các quốc gia, căn cứ vào Hiến chương Liên hợp Quốc và các
nguyên tắc luật pháp quốc tế, đều có chủ quyền khai thác các nguồn tài nguyên trong nước
sao cho phù hợp với các chính sách môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm
bảo các hoạt động đó thuộc quyền hạn hoặc phạm vi kiểm soát của mình, không gây hủy hoại đến môi trường của các nước khác hay các vùng nằm ngoài giới hạn tài phán quốc gia,

Xem xét hoàn cảnh và yêu cầu cụ thể của các nước đang phát triển, nhất là các nước kém phát triển nhất và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, đặc biệt là nhu cầu nâng cao năng lực quốc gia về quản lý hóa chất, bao gồm việc chuyển giao công nghệ, cung cấp hỗ trợ tài chính và kỹ thuật, cũng như tăng cường hợp tác giữa các Bên,

Xem xét toàn diện Chương trình Hành động Phát triển Bền vững của các Quốc gia Đảo nhỏ đang Phát triển, được thông qua tại Barbados, ngày 6-5-1994,

Lưu ý đến khả năng của từng nước phát triển và đang phát triển, cũng như các trách nhiệm chung nhưng có sự phân biệt của các Quốc gia được đặt ra trong Nguyên tắc số 7 của Tuyên ngôn Rio về Môi trường và Phát triển,

Thừa nhận sự đóng góp quan trọng của khu vực tư nhân và các tổ chức phi chính phủ,
trong việc giảm thiểu và/hoặc loại trừ sự phát thải các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy,

 

 

Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các nhà sản xuất các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy phải chịu trách nhiệm giảm thiểu các tác động nguy hại do các sản phẩm của họ gây ra, cũng như cung cấp thông tin cho người sử dụng, cho chính quyền và dân chúng về các tính chất nguy hại của các hóa chất đó,

 

Nhận thức về yêu cầu áp dụng các biện pháp phòng ngừa các tác động nguy hại do các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy gây ra, ở mọi giai đoạn trong vòng đời của chúng,

Tái khẳng định Nguyên tắc 16 của Tuyên ngôn Rio về Môi trường và Phát triển mà quy định nhà cầm quyền các quốc gia cần đẩy mạnh việc tính gộp chi phí môi trường và sử dụng các công cụ kinh tế, xem xét đến nguyên tắc người gây ô nhiễm sẽ phải chịu mọi chi phí ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức đến lợi ích cộng đồng mà không gây trở ngại đến đầu tư và thương mại quốc tế,

Khuyến khích các Bên chưa có các kế hoạch pháp chế và đánh giá đối với thuốc bảo vệ thực vật và các hóa chất công nghiệp để xây dựng các kế hoạch đó,

Thừa nhận tầm quan trọng của việc phát triển và sử dụng các quá trình và hóa chất thay thế hợp lý về mặt môi trường,

Kiên quyết bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước những tác động có hại của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy,

Đã nhất trí như sau:

 

 

ĐIỀU 1

Mục tiêu

Chú trọng đến phương pháp phòng ngừa quy định trong Nguyên tắc 15 của Tuyên ngôn Rio về Môi trường và Phát triển, mục tiêu của Công ước này là bảo vệ sức khỏe con người và môi trường trước các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.

 

ĐIỀU 2

Các định nghĩa

Trong khuôn khổ của Công ước này:

(a)            "Bên" có nghĩa là một quốc gia, hoặc một Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực, đồng ý chịu sự ràng buộc theo Công ước này và Công ước có hiệu lực với quốc gia hoặc tổ chức đó;

(b)         "Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực" có nghĩa là một tổ chức được các quốc gia
có chủ quyền của một khu vực thành lập và  trao thẩm quyền về các vấn đề thuộc sự quản lý
của Công ước; có đủ thẩm quyền ký, phê chuẩn, công nhận hoặc tham gia Công ước này theo các thủ tục quy định nội bộ của tổ chức đó;

(c)         "Các Bên có mặt và bỏ phiếu" là các Bên có mặt và bỏ phiếu thuận hoặc chống.

 

ĐIỀU 3

Các biện pháp giảm thiểu hoặc loại trừ những phát thải do sản xuất và sử dụng có chủ định

1.              Mỗi Bên sẽ:

 (a)            Cấm và/hoặc áp dụng các biện pháp pháp lý và hành chính cần thiết để loại trừ:

(i)              Việc sản xuất và sử dụng các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A theo đúng quy định trong phụ lục đó; và

(ii)             Việc xuất nhập khẩu các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A theo đúng quy định của khoản 2; và

(b)            Hạn chế sản xuất và sử dụng các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục B theo đúng quy định của phụ lục đó.

2.              Mỗi Bên sẽ áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo:

(a)            Nhập khẩu một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A hoặc Phụ lục B khi và chỉ khi:

(i)              Để tiêu hủy hợp lý về môi trường như đã đề ra trong khoản 1 (d) của Điều 6; hoặc

(ii)             Để sử dụng hoặc phục vụ mục đích mà Bên nhập khẩu được phép theo Phụ lục A hoặc B;

(b)         Xuất khẩu một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A có hiệu lực miễn trừ riêng biệt đối với bất kỳ hoạt động sản xuất hay sử dụng nào, hoặc một hóa chất được liệt kê trong
Phụ lục B có hiệu lực miễn trừ hoặc với mục đích được cho phép đối với bất kỳ hoạt động sản xuất hay sử dụng nào, có xét đến các điều khoản quy định trong các văn kiện quốc tế hiện hành về thỏa thuận có thông báo trước, khi và chỉ khi:

(i)              Để tiêu hủy hợp lý với môi trường như đã đề ra trong khoản 1 (d) của Điều 6;

(ii)             Cho một Bên được phép sử dụng hóa chất đó theo Phụ lục A hay Phụ lục B; hoặc

(iii) Cho một quốc gia không phải là một Bên tham gia Công ước này, nhưng hàng năm
cấp giấy chứng nhận cho Bên xuất khẩu. Việc chứng nhận này phải chỉ rõ việc sử dụng có chủ định từng hóa chất và phải kèm theo một cam kết của quốc gia nhập khẩu đối với hóa chất đó để đảm bảo:

*                Bảo vệ sức khỏe con người và môi trường bằng việc áp dụng các biện pháp cần

thiết để giảm thiểu, hoặc phòng ngừa các phát thải;

*                Tuân thủ các quy định trong khoản 1 của Điều 6; và

*                Tuân thủ các quy định trong khoản 2, Phần II của Phụ lục B nếu thích hợp.

Hồ sơ chứng nhận sẽ đi kèm với bất kỳ văn bản thích hợp nào, như luật, các văn kiện
pháp lý, hoặc các hướng dẫn hành chính hay chính sách. Bên xuất khẩu sẽ phải gửi hồ sơ
chứng nhận đó cho Ban Thư ký Công ước trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đó.

(c)         Một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A, nhưng không còn hiệu lực miễn trừ
riêng biệt về sản xuất và sử dụng đối với bất kỳ Bên nào, thì Bên đó không được xuất khẩu,
ngoại trừ trường hợp với mục đích tiêu hủy hợp lý về môi trường như đã đề ra trong khoản 1

(d) của Điều 6;

(d)         Trong khuôn khổ của khoản này, cụm từ "Quốc gia không phải Bên tham gia
Công ước" đối với một hóa chất cụ thể sẽ là một Quốc gia, hoặc một Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực, chưa chấp nhận sự rằng buộc của Công ước đối với hóa chất đó.

3.              Mỗi Bên đã có một hay nhiều kế hoạch pháp lý và đánh giá các thuốc bảo vệ
thực vật mới, hoặc các hóa chất công nghiệp mới, sẽ áp dụng các biện pháp pháp lý nhằm
mục đích ngăn ngừa việc sản xuất và sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật mới hoặc các hóa chất công nghiệp mới, có xét đến các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1, Phụ lục D, trình bày các đặc tính của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy.

4.              Mỗi Bên đã có một hoặc nhiều kế hoạch pháp lý và đánh giá các thuốc bảo vệ
thực vật hoặc các hóa chất công nghiệp, sẽ xem xét việc áp dụng các tiêu chuẩn quy định tại
khoản 1, Phụ lục D trong các kế hoạch đó, khi tiến hành các đánh giá thuốc bảo vệ thực vật hoặc các hóa chất công nghiệp đang được sử dụng, nếu thích hợp.

5.              Trừ khi có quy định khác trong Công ước này, các khoản 1 và 2 sẽ không áp
dụng đối với những lượng hóa chất sử dụng cho nghiên cứu quy mô phòng thí nghiệm, hay
dùng với tư cách là một chất đối chứng chuẩn.

6.              Bất kỳ Bên nào có quyền miễn trừ riêng biệt theo Phụ lục A, hoặc quyền miễn
trừ riêng biệt hay một mục đích được cho phép theo Phụ lục B, sẽ phải áp dụng các biện pháp thích hợp để đảm bảo việc tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất hay sử dụng dưới quyền miễn trừ hoặc mục đích được cho phép đó có sự ngăn ngừa hoặc giảm thiểu được sự nhiễm độc cho con người và phát thải vào môi trường. Đối với việc sử dụng có quyền miễn trừ hoặc với các mục đích được cho phép, nhưng phát thải có chủ định vào môi trường trong điều kiện sử dụng bình thường, thì mức độ phát thải chỉ được ở giới hạn tối thiểu cần thiết, có xem xét đến bất kỳ tiêu chuẩn và hướng dẫn nào thích hợp.

 

ĐIỀU 4

Đăng ký miễn trừ riêng biệt

1.              Một sổ Đăng ký được thành lập với mục đích xác định các Bên có quyền miễn
trừ riêng biệt cho các chất được liệt kê ở Phụ lục A hoặc Phụ lục B. Sổ đăng ký sẽ không xác
định những Bên được áp dụng các quy định trong Phụ lục A hoặc Phụ lục B mà tất cả các Bên đều được phép thực hiện. Sổ Đăng ký sẽ do Ban thư ký lưu trữ và sẵn sàng công bố cho cộng đồng.

2.              Sổ đăng ký bao gồm:

(a)            Một danh mục các miễn trừ riêng biệt trên cơ sở Phụ lục A và Phụ B;

(b)            Một danh sách các Bên có quyền miễn trừ riêng biệt cho những chất được liệt

kê theo Phụ lục A hoặc Phụ lục B; và

(c)             Một danh mục thời gian hết hạn đối với từng miễn trừ riêng biệt đã đăng ký.

3.              Bất kỳ Quốc gia nào sau khi trở thành một Bên tham gia, đều được phép dùng thông báo bằng văn bản cho Ban Thư ký để đăng ký một hoặc nhiều loại miễn trừ riêng biệt cho các chất liệt kê trong Phụ lục A hoặc Phụ lục B.

4.              Trừ phi một Bên đưa ra thời hạn sớm hơn trong sổ Đăng ký, hoặc được phép
gia hạn căn cứ theo khoản 7, còn không tất cả các đăng ký miễn trừ riêng biệt đều hết hạn
trong vòng 5 năm, kể từ ngày Công ước có hiệu lực đối với một hóa chất cụ thể.

5.              Tại cuộc họp đầu tiên, Hội nghị các Bên sẽ quyết định quy trình xét duyệt đối với các mục đăng ký trong sổ Đăng ký.

6.              Trước khi xét duyệt một mục đăng ký trong sổ Đăng ký, Bên liên quan sẽ phải
gửi cho Ban Thư ký một báo cáo giải trình nhu cầu tiếp tục của mình về sự đăng ký miễn trừ
đó. Ban Thư ký sẽ chuyển báo cáo đó tới tất cả các Bên. Việc xét duyệt đăng ký sẽ được tiến hành trên cơ sở tất cả các thông tin hiện có. Sau đó, Hội nghị các Bên có thể đưa ra các kiến nghị cho Bên liên quan nếu thấy thích hợp.

7.              Theo yêu cầu của Bên liên quan, Hội nghị các Bên có thể quyết định gia hạn thêm cho một miễn trừ riêng biệt tới 5 năm. Trong khi ra quyết định, Hội nghị các Bên sẽ xem xét ưu tiên cho hoàn cảnh đặc biệt của các Bên là các nước đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi.

8.              Vào bất kỳ thời điểm nào, một Bên được phép thông báo bằng văn bản cho
Ban Thư ký để xin rút lại một mục đăng ký cho một miễn trừ riêng biệt khỏi sổ Đăng ký. Việc hủy đăng ký này sẽ có hiệu lực kể từ ngày ghi trong thông báo đó.

9.              Khi không còn bất cứ Bên nào đăng ký một loại miễn trừ riêng biệt, có thể sẽ
không có đăng ký mới nào liên quan đến loại quyền miễn trừ đó được thực hiện nữa.

 

ĐIỀU 5

Các biện pháp giảm thiểu hoặc loại trừ những phát thải hình thành không chủ định

Mỗi Bên sẽ phải áp dụng ít nhất là các biện pháp dưới đây, nhằm giảm tổng mức phát thải từ các nguồn do con người gây ra đối với từng hóa chất được liệt kê trong Phụ lục C, với mục tiêu giảm thiểu không ngừng và cuối cùng là để loại trừ, nếu khả thi:

(a)            Xây dựng một kế hoạch hành động, hoặc kế hoạch hành động cấp khu vực hay
tiểu khu vực nếu thích hợp, trong thời gian 2 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực đối với
Bên đó, và sau đó thực hiện kế hoạch hành động đó như một phần của kế hoạch thực hiện nêu tại Điều 7, để nhận biết, xác định tính chất và giải quyết phát thải các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục C và tạo điều kiện thực hiện các mục từ (b) đến (e). Kế hoạch hành động phải bao gồm các yếu tố dưới đây:

(i)          Đánh giá các phát thải trong hiện tại và dự kiến, bao gồm xây dựng và duy trì
công tác kiểm kê tại nguồn và các ước lượng phát thải, có xem xét đến các nhóm loại nguồn thải được xác định trong Phụ lục C;

(ii)             Đánh giá hiệu lực của các luật lệ và chính sách của Bên tham gia liên quan đến công tác quản lý các phát thải đó;

(iii) Các chiến lược đáp ứng những nghĩa vụ của mục này, có xem xét công tác đánh giá nêu ở (i) và (ii);

(iv) Các bước để triển khai giáo dục đào tạo và nâng cao nhận thức về các chiến lược đó;

(v)         Kiểm điểm 5 năm một lần các chiến lược đó và thành tựu của chúng trong việc
đáp ứng những nghĩa vụ của mục này; các kết quả kiểm điểm đó sẽ được đưa vào các báo cáo để trình chiểu theo Điều 15;

(vi) Một lộ trình cho việc thực hiện kế hoạch hành động, bao gồm các chiến lược và biện pháp đã được xác định trong đó;

(b)         Khuyến khích áp dụng các biện pháp khả thi và thực tiễn hiện có, để có thể
khẩn trương đạt được một mức độ giảm thiểu phát thải đáng kể và thực tế, hoặc loại trừ được nguồn phát thải;

(c)         Khuyến khích phát triển và nếu thấy thích hợp thì yêu cầu sử dụng các chất,
các sản phẩm và các quy trình sản xuất thay thế hay cải tiến, để ngăn ngừa quá trình hình
thành và phát thải các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục C, có cân nhắc đến hướng dẫn chung về các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu phát thải trong Phụ lục C và các hướng dẫn được thông qua bởi quyết định của Hội nghị các Bên;

(d)         Khuyến khích và, chiểu theo lịch trình thực hiện kế hoạch hành động của
mình, yêu cầu sử dụng các kỹ thuật tốt nhất hiện có đối với những nguồn thải mới thuộc các nhóm nguồn mà một Bên đã xác định chắc chắn là một hành động trong kế hoạch hành động của mình, với trọng tâm ban đầu là các nhóm nguồn thải được xác định trong Phần II của Phụ lục C. Trong mọi trường hợp, yêu cầu áp dụng các kỹ thuật tốt nhất hiện có đối với những nguồn thải mới thuộc các nhóm loại liệt kê trong Phần II của Phụ lục C phải được đưa vào kế hoạch ngay khi có thể, nhưng không chậm quá 4 năm sau ngày Công ước có hiệu lực với Bên đó. Đối với các nhóm loại đã xác định, các Bên phải thúc đẩy sử dụng các phương thức tốt nhất về môi trường. Khi áp dụng các kỹ thuật tốt nhất hiện có và phương thức tốt nhất về môi trường, các Bên cần cân nhắc đến hướng dẫn chung về các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu phát thải trong Phụ lục đó, cũng như các hướng dẫn về kỹ thuật tốt nhất hiện có và phương thức tốt nhất về môi trường sẽ được thông qua bởi quyết định của Hội nghị các Bên;

(e)            Chiểu theo kế hoạch hành động của mình, khuyến khích áp dụng các kỹ thuật tốt nhất hiện có và các phương thức tốt nhất về môi trường:

(i)          Cho các nguồn hiện tại, thuộc những nhóm loại được liệt kê trong Phần II của
Phụ lục C và thuộc các nhóm loại nguồn như các nhóm thuộc Phần III của Phụ lục C; và

(ii)         Đối với các nguồn mới, thuộc các nhóm nguồn chẳng hạn như liệt kê trong
Phần III của Phụ lục C mà một Bên chưa đề cập đến theo quy định của mục (d) ở trên.

Khi áp dụng các kỹ thuật tốt nhất hiện có và các phương thức tốt nhất về môi trường, các Bên cần phải cân nhắc đến hướng dẫn chung về các biện pháp phòng ngừa và giảm thiểu phát thải trong Phụ lục C và hướng dẫn về các kỹ thuật tốt nhất hiện có và các phương thức tốt nhất về môi trường, để được thông qua bởi quyết định của Hội nghị các Bên;

(f)              Trong khuôn khổ của mục này và Phụ lục C:

(i)              "Các kỹ thuật tốt nhất hiện có" có nghĩa là giai đoạn phát triển các hoạt động một cách hiệu quả và tiên tiến nhất và các phương pháp vận hành chúng mà chứng tỏ sự phù hợp mang tính thực tiễn của các kỹ thuật đặc thù làm cơ sở cho việc hạn chế phát thải để phòng ngừa và trong trường hợp không thể phòng ngừa thì nói chung phải giảm thiểu được phát thải các hóa chất được liệt kê trong Phần I của Phụ lục C cũng như tác động của chúng đến môi trường nói chung. Về vấn đề này:

(ii)             "Các kỹ thuật" bao gồm cả công nghệ áp dụng lẫn cách thức thiết kế, xây dựng, bảo trì, vận hành và đóng cửa một cơ sở sản xuất;

(iii) Các kỹ thuật "hiện có" có nghĩa là các kỹ thuật mà người vận hành có khả năng tiếp
cận và được phát triển ở quy mô cho phép thực hiện được trong ngành công nghiệp liên quan, dưới các điều kiện khả thi về mặt kinh tế và kỹ thuật, có cân nhắc đến chi phí và các ưu điểm;

(iv) "Tốt nhất" có nghĩa là có hiệu quả nhất trong việc đạt được mức độ cao về bảo vệ môi trường nói chung;

(v)             "Các phương thức tốt nhất về môi trường" là việc áp dụng kết hợp các biện pháp và chiến lược kiểm soát môi trường thích hợp nhất;

(vi)            "Nguồn thải mới" là bất kỳ nguồn thải nào mới bắt đầu xây dựng hoặc cải tiến phần lớn trong thời gian ít nhất là 1 năm, sau ngày:

-              Công ước có hiệu lực đối với Bên liên quan;  hay

-              Việc sửa đổi bổ sung Phụ lục C có hiệu lực đối với một Bên liên quan có nguồn thải buộc phải tuân theo các điều khoản quy định của Công ước do việc sửa đổi bổ sung phụ lục đó.

(g)            Một Bên được phép áp dụng các giới hạn phát thải hoặc các tiêu chuẩn vậnhành để hoàn thành các cam kết của mình đối với việc áp dụng các kỹ thuật tốt nhất hiện có quy định theo mục này.

 

ĐIỀU 6

Các biện pháp giảm thiểu hoặc loại trừ phát thải từ các tồn lưu và chất thải

1.              Để đảm bảo rằng các tồn lưu mà bao gồm hay có chứa các hóa chất được liệt
kê trong Phụ lục A, hoặc Phụ lục B và các chất thải kể cả các sản phẩm và hàng hóa sẽ trở
thành các chất thải mà bao gồm, có chứa hoặc bị ô nhiễm một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A, B hay C, được quản lý sao cho bảo vệ được sức khỏe con người và môi trường, mỗi Bên phải:

(a)            Xây dựng các chiến lược thích hợp nhằm xác định:

(i)              Các tồn lưu mà bao gồm hay có chứa các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A

hoặc Phụ lục B; và

(ii)             Các sản phẩm và hàng hóa đang sử dụng và các chất thải mà bao gồm, có chứa

hay bị ô nhiễm một hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A, B hoặc C;

(b)            Trong phạm vi có thể, xác định các tồn lưu mà bao gồm hay có chứa các hóa

chất được liệt kê trong Phụ lục A hoặc Phụ lục B trên cơ sở các chiến lược được nói đến trong mục (a);

(c)         Quản lý thích hợp các tồn lưu một cách an toàn, hiệu quả và hợp lý về môi
trường. Tồn lưu của các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A hoặc Phụ lục B, sau khi hết
phép sử dụng theo bất kỳ quyền miễn trừ riêng biệt nào nêu trong Phụ lục A, hoặc theo bất kỳ quyền miễn trừ riêng biệt hay mục đích được cho phép nào nêu trong Phụ lục B, ngoại trừ các tồn lưu được phép xuất khẩu theo khoản 2 của Điều 3, sẽ bị coi là chất thải và phải được quản lý theo quy định của mục (d);

(d)            áp dụng các biện pháp thích hợp để các chất thải đó, kể cả các sản phẩm và các

hàng hóa sẽ trở thành chất thải, được:

(i)              Xử lý, thu gom, vận chuyển và lưu giữ một cách hợp lý với môi trường;

(ii)             Tiêu hủy theo cách phân hủy hoặc chuyển hóa hoàn toàn hàm lượng chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, để các chất thải đó không còn có tính chất của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy; hoặc được tiêu hủy theo cách khác hợp lý về môi trường khi việc phân hủy hay chuyển hóa hoàn toàn không hẳn là một giải pháp ưa chuộng về mặt môi trường, hoặc khi hàm lượng chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy thấp, trong đó có xét đến các quy định, tiêu chuẩn và hướng dẫn quốc tế, kể cả các quy định, tiêu chuẩn và hướng dẫn có thể được xây dựng căn cứ vào khoản 2, và các thể chế quản lý các chất thải nguy hại toàn cầu và khu vực có liên quan;

(iii) Cấm đưa vào những hoạt động tiêu hủy có thể dẫn đến việc thu hồi, tái chế, phục
hồi, tái sử dụng trực tiếp, hoặc sử dụng thay thế các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy; và

(iv) Cấm vận chuyển xuyên biên giới khi không xem xét các quy định, tiêu chuẩn và hướng dẫn quốc tế có liên quan;

(e)            Cố gắng xây dựng các chiến lược thích hợp để xác định các địa điểm bị ô
nhiễm bởi các hóa chất được liệt kê trong Phụ lục A, B hoặc C; nếu tiến hành phục hồi các địa điểm đó, thì việc phục hồi phải được thực hiện một cách hợp lý về môi trường.

2.              Hội nghị các Bên sẽ hợp tác chặt chẽ với các tổ chức thích hợp của Công ước
Basel về kiểm soát việc vận chuyển xuyên biên giới và tiêu hủy các chất thải nguy hại, trong
đó bao gồm các vấn đề sau:

 

 

 

(a)            Thiết lập các mức độ phân hủy và chuyển hóa hoàn toàn cần thiết để đảm bảo các đặc tính của các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy như quy định trong khoản 1 của Phụ lục D không còn xuất hiện nữa;

(b)            Xác định các phương pháp được xem là tạo ra được sự tiêu hủy hợp lý về môi

trường như đã đề cập ở trên; và

(c)         Nếu thích hợp, cùng làm việc để thiết lập các mức nồng độ của các hóa chất
liệt kê trong các Phụ lục A, B và C, nhằm xác định mức hàm lượng thấp của chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy như đã đề cập trong khoản 1 (d) (ii).

 

ĐIỀU 7

Kế hoạch thực hiện

1.              Mỗi Bên sẽ phải:

(a)            Xây dựng và nỗ lực triển khai kế hoạch thực hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước này;

(b)            Gửi kế hoạch thực hiện của mình cho Hội nghị các Bên trong thời gian 2 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực đối với Bên đó; và

(c)             Nếu thích hợp, tiến hành kiểm tra và cập nhật định kỳ kế hoạch thực hiện của mình theo quyết định của Hội nghị các Bên.

2.              Tùy trường hợp, các Bên sẽ hợp tác trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức toàn
cầu, khu vực và tiểu khu vực, và tư vấn với các bên-tham-gia/liên-quan1 trong nước, gồm cả
các nhóm hội phụ nữ và những tổ chức tham gia vào công tác sức khỏe trẻ em, để tạo điều kiện xây dựng, thực hiện và cập nhật các kế hoạch thực hiện của mình.

3.              Các Bên sẽ nỗ lực sử dụng, và nếu cần thiết xây dựng các công cụ để lồng
ghép các kế hoạch thực hiện quốc gia về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy với các chiến lược phát triển bền vững của mình khi thích hợp.

 

ĐIỀU 8

Lập danh mục các hóa chất trong các Phụ lục A, B và C

1.              Một Bên có thể gửi đề xuất tới Ban Thư ký về việc đưa một hóa chất vào danh
mục trong các Phụ lục A, B và/hoặc C. Đề xuất đó sẽ bao gồm các thông tin theo quy định
trong Phụ lục D. Trong khi xây dựng đề xuất của mình, một Bên có thể được các Bên khác
và/hoặc Ban Thư ký hỗ trợ.

2.               Ban Thư ký sẽ thẩm tra xem đề xuất đó có đủ các thông tin như quy định trong
Phụ lục D hay không. Khi thỏa mãn rằng đề xuất có đủ các thông tin như quy định, Ban Thư
ký sẽ gửi đề xuất đó lên ủy ban Xét duyệt các Chất ô nhiễm Hữu cơ Khó phân hủy.

3.               ủy ban này sẽ kiểm tra đề xuất đó và áp dụng các tiêu chí sàng lọc như quy định trong Phụ lục D một cách linh hoạt và minh bạch, trên cơ sở xem xét tất cả các thông tin được cung cấp một cách tổng hợp và cân đối.

4.               Nếu ủy ban quyết định rằng:

(a)             Đề xuất đó thỏa mãn đầy đủ các tiêu chí sàng lọc, thì ủy ban sẽ thông qua Ban Thư ký để gửi cho tất cả các Bên và các quan sát viên đề xuất đó cũng như bản đánh giá của ủy ban, đồng thời đề nghị họ cung cấp những thông tin nêu ra Phụ lục E; hoặc

(b)             Đề xuất đó chưa thỏa mãn đầy đủ các tiêu chí sàng lọc, thì ủy ban thông qua Ban Thư ký sẽ thông báo cho tất cả các Bên và quan sát viên, đồng thời cung cấp đề xuất đó và bản đánh giá của ủy ban cho tất cả các Bên, và đề xuất đó sẽ bị loại.

5.               Bất kỳ Bên nào cũng đều được phép trình lại với ủy ban Xét duyệt đề xuất đã
bị ủy ban loại theo quy định ở khoản 4. Đơn trình lại có thể bao gồm bất kỳ lợi ích nào của
Bên đó trong việc trình lại, cũng như lý giải những vấn đề mà ủy ban cần xem xét bổ sung.
Nếu sau thủ tục này mà đề xuất vẫn bị ủy ban loại, thì Bên trình lại được phép chất vấn quyết định của ủy ban và Hội nghị các Bên sẽ xem xét vấn đề đó tại phiên họp tiếp theo của họ. Hội nghị các Bên có thể quyết định tiếp tục xem xét đề xuất đó dựa trên các tiêu chí sàng lọc ở Phụ lục D và xét lại bản đánh giá của ủy ban, cũng như các thông tin do bất kỳ Bên nào hoặc quan sát viên nào cung cấp.

6.               Trường hợp ủy ban Xét duyệt quyết định đề xuất đó đã đáp ứng được các tiêu
chí sàng lọc, hoặc Hội nghị các Bên quyết định rằng đề xuất đó cần phải tiếp tục triển khai, thì ủy ban sẽ xem xét kỹ càng hơn đề xuất đó, cùng với việc xem xét mọi thông tin bổ sung có liên quan mà ủy ban nhận được, và sẽ soạn một dự thảo hồ sơ rủi ro theo quy định của Phụ lục E. Thông qua Ban Thư ký, ủy ban sẽ gửi bản dự thảo đó cho tất cả các Bên và quan sát viên để thu thập ý kiến và xem xét các ý kiến đó nhằm hoàn tất hồ sơ rủi ro.

7.               Trên cơ sở hồ sơ rủi ro được thực hiện theo Phụ lục E, ủy ban Xét duyệt sẽ
quyết định:

(a)             Khi di chuyển tầm xa trong môi trường, nếu một hóa chất dễ có khả năng gây
ra các ảnh hưởng có hại đến sức khỏe con người và/hoặc môi trường mà đòi hỏi phải có hành động toàn cầu, thì đề xuất đó cần được tiếp tục xem xét. Việc thiếu cơ sở khoa học vững chắc sẽ không cản trở việc xem xét đề xuất này. ủy ban thông qua Ban Thư ký đề nghị tất cả các Bên và các quan sát viên cung cấp thông tin liên quan đến việc xem xét như quy định ở Phụ lục F. Sau đó, ủy ban sẽ soạn thảo bản đánh giá quản lý rủi ro, trong đó phân tích các biện pháp kiểm soát khả thi đối với hóa chất đó theo quy định ở phụ lục F; hoặc

(b)         Nếu đề xuất không được tiếp tục xem xét, thì ủy ban thông qua Ban Thư ký để
gửi hồ sơ rủi ro đến tất cả các Bên và quan sát viên, và sẽ loại đề xuất đó.

8.               Đối với bất kỳ đề xuất nào bị loại theo khoản 7 (b), một Bên được phép yêu
cầu Hội nghị các Bên xem xét lại và chỉ thị cho ủy ban Xét duyệt phải đề nghị Bên có đề xuất và các Bên khác cung cấp thông tin bổ sung trong thời gian không quá một năm. Sau thời hạn đó, ủy ban sẽ xem xét lại đề xuất đó trên cơ sở mọi thông tin bổ sung nhận được như theo quy định ở khoản 6, với một mức độ ưu tiên sẽ do Hội nghị các Bên quyết định. Nếu sau quy trình thủ tục này mà ủy ban vẫn loại đề xuất đó, thì Bên liên quan được quyền chất vấn quyết định của ủy ban, và Hội nghị các Bên sẽ xem xét vấn đề đó tại phiên họp tiếp theo của mình. Trên cơ sở hồ sơ rủi ro được soạn thảo theo Phụ lục E cũng như việc xem xét bản đánh giá của ủy ban và tất cả thông tin bổ sung được bất kỳ Bên nào hay quan sát viên nào cung cấp, Hội nghị các Bên có thể quyết định tiếp tục xem xét đề xuất nữa hay dừng lại. Trong trường hợp Hội nghị các Bên quyết định cần xem xét tiếp đề xuất đó, thì ủy ban sẽ soạn thảo bản đánh giá quản lý rủi ro.

9.               Trên cơ sở hồ sơ rủi ro được nêu tại khoản 6 và bản đánh giá quản lý rủi ro
được đề cập ở khoản 7 (a) hoặc khoản 8, ủy ban Xét duyệt sẽ kiến nghị xem hóa chất đó có cần được Hội nghị các Bên xem xét để đưa vào danh mục trong các Phụ lục A, B và/hoặc C hay không. Sau khi xem xét xác đáng các kiến nghị của ủy ban thẩm định, kể cả các yếu tố thiếu chắc chắn về mặt khoa học, Hội nghị các Bên sẽ thận trọng quyết định xem có đưa hóa chất đó vào danh mục hay không, đồng thời quy định các biện pháp kiểm soát liên quan đến hóa chất đó trong các Phụ lục A, B và/hoặc C.

 

 ĐIỀU 9

Trao đổi thông tin

1.               Mỗi Bên phải tạo điều kiện hoặc cam kết trao đổi thông tin liên quan đến:

(a)             Giảm thiểu và loại trừ việc sản xuất, sử dụng và phát thải các chất ô nhiễm hữu

cơ khó phân hủy; và

(b)             Các giải pháp thay thế đối với các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, kể cả thông tin liên quan đến các rủi ro, cũng như những chi phí về kinh tế và xã hội của các chất đó.

2.               Các Bên phải trao đổi các thông tin nêu khoản 1 trực tiếp với nhau hoặc thông qua Ban Thư ký.

3.               Mỗi Bên cần chỉ định một đầu mối quốc gia trong việc trao đổi các thông tin đó.

4.               Ban Thư ký giữ vai trò như một cơ chế ngân hàng thông tin về các chất ô
nhiễm hữu cơ khó phân hủy, gồm cả thông tin do các Bên các tổ chức liên chính phủ và phi
chính phủ cung cấp.

5.               Vì những mục tiêu của Công ước này, mọi thông tin về sức khỏe và an toàn
của con người và môi trường không được coi là các thông tin mật. Các Bên trao đổi những
thông tin khác chiểu theo Công ước này, sẽ phải bảo vệ bí mật cho bất kỳ thông tin nào theo thỏa thuận chung.

 

ĐIỀU 10

Thông tin, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng

1.               Tùy khả năng của mình, mỗi Bên cần thúc đẩy và tạo điều kiện cho việc:

(a)             Nâng cao nhận thức cho các nhà hoạch định chính sách và quyết sách về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy;

(b)             Cung cấp cho dân chúng tất cả các thông tin hiện có về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, có xem xét đến khoản 5, Điều 9;

(c)         Xây dựng và triển khai các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức cộng
đồng, đặc biệt là cho phụ nữ, trẻ em và người ít học về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân
hủy, cũng như những ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường của chúng và các chất thay thế cho chúng;

(d)         Tham gia của cộng đồng trong việc xác định các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân
hủy và các ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường, cũng như xây dựng các biện pháp ứng phó thỏa đáng, bao gồm các cơ hội đóng góp vào việc thực hiện Công ước này ở cấp quốc gia;

(e)             Đào tạo các công nhân, các nhà khoa học, các nhà giáo dục, các cán bộ kỹ

thuật và quản lý;

(f)              Xây dựng và trao đổi tài liệu giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng ở quy mô quốc gia và quốc tế;

(g)             Xây dựng và triển khai các chương trình giáo dục và đào tạo ở quy mô quốc gia và quốc tế.

2.               Tùy theo khả năng của mình, mỗi Bên sẽ đảm bảo để cộng đồng có thể tiếp cận
các thông tin chung như trong khoản 1 và các thông tin đó phải được cập nhật. 
 

 

 

 

 

 

 

3.               Tùy theo khả năng của mình, mỗi Bên sẽ khuyến khích ngành công nghiệp và người sử dụng chuyên nghiệp thúc đẩy và tạo điều kiện cho việc cung cấp các thông tin được đề cập ở khoản 1, ở quy mô quốc gia, tiểu khu vực, khu vực và toàn cầu nếu thích hợp.

4.               Khi cung cấp các thông tin về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy và các
chất thay thế, các Bên có thể sử dụng bản dữ liệu an toàn, báo cáo, truyền thông đại chúng và các phương tiện thông tin khác, và có thể thành lập các trung tâm thông tin quốc gia và khu vực.

5.             Mỗi Bên sẽ đồng lòng xem xét việc xây dựng các cơ chế, chẳng hạn các cơ sở
đăng kiểm phát thải và chuyển giao chất ô nhiễm, nhằm thu thập và phổ biến thông tin về việc
ước lượng khối lượng các hóa chất liệt kê trong Phụ lục A, B hoặc C đã phát thải hay được tiêu hủy hàng năm.

 

ĐIỀU 11

Nghiên cứu, phát triển và quan trắc

1.               Tùy khả năng của mình ở quy mô quốc gia và quốc tế, các Bên sẽ khuyến khích và/hoặc đảm nhiệm nghiên cứu, phát triển, quan trắc và hợp tác thích hợp về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, và nếu thích hợp, về các chất thay thế và các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy được đề xuất, bao gồm các vấn đề như:

(a)             Các nguồn và mức phát thải của chúng ra môi trường;

(b)             Sự hiện diện, mức độ và xu thế của chúng ở người và trong môi trường;

(c)             Sự phát tán, số phận và chuyển hóa của chúng trong môi trường;

(d)             Các ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người và môi trường;

(e)             Các tác động của chúng đến kinh tế- xã hội và văn hóa;

(f)              Các biện pháp giảm thiểu và/hoặc loại trừ phát thải của chúng; và

(g)             Các phương pháp luận hài hòa để tiến hành kiểm kê các nguồn phát thải và các

kỹ thuật phân tích trong định lượng phát thải.

2.               Khi triển khai hành động theo khoản 1, tùy theo khả năng của mình, các Bên

sẽ:

(a)             Hỗ trợ và phát triển hơn nữa các chương trình, mạng lưới và các tổ chức quốc
tế nhằm xác định, chỉ đạo, đánh giá và cấp vốn cho công tác nghiên cứu, thu thập dữ liệu và
quan trắc, có xét đến yêu cầu giảm bớt các nỗ lực chồng chéo;

(b)         Hỗ trợ các nỗ lực quốc gia và quốc tế trong việc nâng cao năng lực quốc gia về
nghiên cứu khoa học và kỹ thuật, nhất là ở các nước đang phát triển và các nước có nền kinh
tế chuyển đổi, cũng như tăng cường khả năng truy cập cũng như trao đổi số liệu và các kết
quả phân tích;

(c)         Xem xét các mối quan tâm và nhu cầu, nhất là về nguồn lực tài chính và kỹ
thuật của các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, cũng như hợp tác
để nâng cao khả năng tham gia của họ trong các hoạt động đề cập tại các mục (a) và (b);

(d)         Xúc tiến công tác nghiên cứu hướng tới việc giảm thiểu những ảnh hưởng của
các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy đến sức khỏe sinh sản;

(e)             Tạo điều kiện cho dân chúng được tiếp cận một cách thường xuyên và kịp thời
với các kết quả nghiên cứu, phát triển và quan trắc được đề cập đến trong khoản này; và

(f)          Khuyến khích và/hoặc xúc tiến hợp tác trong công tác lưu trữ và duy trì các
thông tin thu được từ các hoạt động nghiên cứu, phát triển và quan trắc.

ĐIỀU 12

Hỗ trợ kỹ thuật

1.               Các Bên thừa nhận rằng việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật kịp thời và thích hợp
nhằm đáp ứng yêu cầu của các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi là cần thiết để thực hiện thành công Công ước này.

2.               Các Bên sẽ hợp tác trong việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật kịp thời và thích hợp để
giúp các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, có xem xét các nhu cầu cụ thể của các Bên, trong việc xây dựng và tăng cường năng lực thực hiện các nghĩa vụ của họ theo quy định của Công ước này.

3.               Về vấn đề này, hỗ trợ kỹ thuật, từ các Bên là các nước phát triển và các Bên
khác theo khả năng của họ, sẽ bao gồm, một cách thích hợp và đúng thỏa thuận chung, cả các hỗ trợ kỹ thuật để xây dựng năng lực liên quan đến việc thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Công ước. Hội nghị các Bên sẽ cung cấp những hướng dẫn chi tiết hơn về vấn đề này.

4.               Nếu thích hợp, các Bên sẽ dàn xếp để cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và khuyến
khích chuyển giao công nghệ cho các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền
kinh tế chuyển đổi trong việc thực hiện Công ước này. Sự dàn xếp đó bao gồm các trung tâm phát triển năng lực và chuyển giao công nghệ cấp khu vực và tiểu khu vực để giúp các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi hoàn thành các nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước. Hội nghị các Bên sẽ hướng dẫn chi tiết về vấn đề này.

5.               Trong phạm vi của điều này, các Bên sẽ quan tâm thích đáng đến các nhu cầu
đặc thù và tình hình đặc biệt của các nước kém phát triển và các quốc gia đảo nhỏ đang phát
triển trong các hành động của họ về vấn đề hỗ trợ kỹ thuật.

 

ĐIỀU 13

Các cơ cấu và nguồn tài chính

1.               Mỗi Bên, tùy theo khả năng của mình, sẽ cam kết cung cấp hỗ trợ tài chính và
các biện pháp khuyến khích đối với các hoạt động quốc gia, nhằm đạt được mục tiêu của
Công ước căn cứ theo các kế hoạch, các ưu tiên và các chương trình quốc gia.

2.               Các Bên là các nước phát triển, sẽ cung cấp các nguồn tài chính mới và bổ
sung để giúp các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi có khả năng đáp ứng đầy đủ các chi phí phát sinh đã được nhất trí trong việc thực hiện các biện pháp để hoàn thành các nghĩa vụ theo quy định của Công ước, như đã thỏa thuận giữa Bên nhận với một tổ chức tham gia vào cơ cấu sẽ được mô tả trong khoản 6. Tùy theo khả năng, các Bên khác có thể cung cấp các nguồn tài chính đó trên cơ sở tự nguyện. Mọi đóng góp từ các nguồn khác cũng được khuyến khích. Việc thực hiện những cam kết đó sẽ xem xét đến yêu cầu về tính đầy đủ, khả năng dự đoán, tính kịp thời của tài trợ, cũng như tầm quan trọng của việc chia sẻ gánh nặng giữa các Bên đóng góp.

3.               Các Bên là các nước phát triển và các Bên khác, tùy theo khả năng của mình
và tùy theo các kế hoạch, ưu tiên và chương trình quốc gia của mình, có thể cung cấp tài
chính, và các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi sẽ tranh thủ các nguồn tài chính để hỗ trợ quá trình thực hiện Công ước thông qua các nguồn hoặc các kênh song phương, khu vực và đa phương khác.

4.               Phạm vi hiệu quả mà các Bên là các nước đang phát triển thực hiện các cam
kết theo quy định của Công ước này sẽ phụ thuộc vào việc thực hiện có hiệu quả các cam kết của các Bên là các nước phát triển theo quy định của Công ước, liên quan đến các nguồn lực tài chính, hỗ trợ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ. Phát triển bền vững kinh tế-xã hội và xóa đói giảm nghèo là các ưu tiên hàng đầu và bao trùm của các Bên là các nước đang phát triển và thực tế này cần phải được quan tâm đầy đủ, trong đó cần phải chú ý đúng mức đến nhu cầu bảo vệ sức khỏe con người và môi trường.

5.               Các Bên sẽ quan tâm đầy đủ đến các nhu cầu đặc thù và tình hình đặc biệt của
các nước kém phát triển, cũng như các quốc gia đảo nhỏ đang phát triển trong các hành động
của họ liên quan đến huy động tài chính.

6.               Một cơ cấu cung cấp các nguồn tài chính đầy đủ và bền vững trên cơ sở viện
trợ và tiền vay ưu đãi cho các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế
chuyển đổi để giúp họ thực hiện Công ước sẽ được xác định qua đây. Cơ cấu này sẽ thực hiện chức năng theo thẩm quyền và nếu thích hợp theo hướng dẫn, cũng như chịu trách nhiệm trước Hội nghị các Bên trong khuôn khổ của Công ước. Sự vận hành của cơ cấu sẽ được ủy thác cho một hoặc nhiều thực thể, gồm cả các tổ chức quốc tế hiện có, có thể do Hội nghị các Bên chỉ định. Đồng thời, cơ cấu này có thể bao gồm các thực thể cung cấp hỗ trợ tài chính và kỹ thuật đa phương, khu vực và song phương. Những đóng góp cho cơ cấu này sẽ là nguồn tài chính bổ sung cho các khoản chuyển giao tài chính cho các Bên là các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, như trình bày ở khoản 2 và chiểu theo quy định khoản 2.

7.                Căn cứ vào các mục tiêu của Công ước và khoản 6, Hội nghị các Bên sẽ phê
chuẩn một hướng dẫn thích hợp cho cơ cấu này tại cuộc họp đầu tiên của mình và sẽ thỏa
thuận với một hay những thực thể tham gia vào cơ cấu tài chính về các dàn xếp để thêm vào đó mang lại hiệu quả. Hướng dẫn này sẽ đề cập những vấn đề sau:

(a)             Quyết định các ưu tiên về chính sách, chiến lược và chương trình cũng như các
tiêu chí và chỉ dẫn rõ ràng chi tiết về tư cách để hưởng và sử dụng các nguồn tài chính, gồm
cả công tác quan trắc và đánh giá định kỳ việc sử dụng các nguồn tài chính đó;

(b)             Việc báo cáo thường kỳ của một hay những thực thể cho Hội nghị các Bên về

tính đầy đủ và bền vững của việc cấp vốn cho các hoạt động liên quan đến việc thực hiện

Công ước này;

(c)             Xúc tiến các cách tiếp cận, cơ cấu và sự dàn xếp của việc cấp vốn đa nguồn;

(d)             Các phương thức xác định chắc chắn và chính xác lượng tiền tài trợ cần thiết

hiện có để thực hiện Công ước, cần lưu ý rằng việc loại trừ dần các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy có thể đòi hỏi việc cấp vốn lâu bền, và các điều kiện mà dựa vào đó lượng tiền này được thẩm tra định kỳ; và

(e)             Các phương thức cung cấp các đánh giá về nhu cầu, thông tin về các nguồn
quỹ hiện có và các mô hình tài trợ cho các Bên muốn tham gia hỗ trợ tài chính, nhằm tạo điều kiện cho sự hợp tác của các Bên.

8.               Chậm nhất là vào cuộc họp thứ hai của Hội nghị các Bên và tiếp sau đó trên cơ
sở định kỳ, Hội nghị các Bên phải thẩm tra tính hiệu lực của cơ cấu thiết lập theo Điều này,
khả năng của nó trong việc giải quyết những nhu cầu đang biến đổi của các Bên là nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi, các tiêu chí và chỉ dẫn nêu ở khoản 7, mức độ cấp vốn cũng như tính hiệu quả hoạt động của các cơ quan thể chế được ủy thác việc vận hành cơ cấu tài chính đó. Trên cơ sở thẩm tra này, Hội nghị các Bên sẽ tiến hành các hành động thích hợp khi cần thiết để nâng cao tính hiệu quả của cơ cấu, kể cả việc đưa ra các kiến nghị và hướng dẫn về các biện pháp nhằm đảm bảo việc cấp vốn đầy đủ và lâu bền nhằm đáp ứng các nhu cầu của các Bên.

 

 ĐIỀU 14

Các dàn xếp tài chính tạm thời

Cơ cấu thể chế của Quỹ Môi trường Toàn cầu, hoạt động căn cứ vào Văn kiện Thành lập Quỹ Môi trường Toàn cầu tái Tổ chức, sẽ là thực thể chính được tạm thời ủy thác các hoạt động của cơ cấu tài chính như đã nêu tại Điều 13, trong thời gian từ ngày Công ước này có hiệu lực cho đến cuộc họp đầu tiên của Hội nghị các Bên, hoặc đến thời gian mà Hội nghị các Bên chỉ định được một cơ cấu thể chế để đảm nhiệm như theo quy định tại Điều 13. Cơ cấu thể chế của Quỹ Môi trường Toàn cầu sẽ thực hiện chức năng này bằng các biện pháp tác nghiệp có liên quan cụ thể đến các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, với lưu ý rằng các dàn xếp mới trong vấn đề này có thể sẽ cần thiết.

 

ĐIỀU 15

Công tác báo cáo

Mỗi Bên sẽ báo cáo cho Hội nghị các Bên về các biện pháp mà Bên đó áp dụng để thực hiện các điều khoản quy định của Công ước và tính hiệu lực của các biện pháp đó trong việc đáp ứng các mục tiêu của Công ước.

Mỗi Bên sẽ cung cấp cho Ban Thư ký:

(a)             Số liệu thống kê về tổng lượng sản xuất, nhập khẩu và xuất khẩu của từng hóa
chất liệt kê trong Phụ lục A và Phụ lục B hoặc ước tính hợp lý của các số liệu đó; và

(b)         Trong phạm vi có thể, danh mục các quốc gia mà Bên đó đã nhập khẩu từng
chất đó và các quốc gia mà Bên đó đã xuất khẩu từng chất đó.

Việc báo cáo này sẽ được thực hiện vào các thời gian định kỳ và theo biểu mẫu do Hội nghị các Bên quyết định tại cuộc họp đầu tiên của Hội nghị các Bên.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Điều 1 - 15 của Công ước

Điều 16 - 30 của Công ước

Phụ lục của Công ước

Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung