Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 3, 15/10/2019, 1h:12:20
Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường > Trang chủ > Hợp tác quốc tế > Điều ước quốc tế > Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), 2001 - Phần 2
Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), 2001 - Phần 2
9/30/2009 7:16:07 AM

Các Bên tham gia Công ước,

Công nhận các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy có tính chất độc hại, khó phân hủy, tích lũy sinh học và được phát tán qua môi trường nước, không khí, bởi các loài động vật di cư, xuyên biên giới giữa các nước, rồi lắng đọng và tích lũy trong các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước ở những nơi xa nguồn phát thải chúng,

Nhận thức được các nguy cơ về sức khỏe, nhất là ở các nước đang phát triển, do việc tiếp xúc với các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, đặc biệt là tác động đến phụ nữ và từ đó ảnh hưởng đến các thế hệ tương lai, .......

 

ĐIỀU 16

Đánh giá hiệu quả

1.               Hội nghị các Bên sẽ bắt đầu đánh giá hiệu quả của Công ước này sau 4 năm,
kể từ ngày Công ước có hiệu lực, và sau đó, sẽ tiếp tục đánh giá sau các khoảng thời gian định kỳ do Hội nghị các Bên quyết định.

2.               Để tạo điều kiện cho việc đánh giá, Hội nghị các Bên tại cuộc họp đầu tiên của
mình sẽ khởi xướng các dàn xếp để tự cung cấp cho mình số liệu quan trắc đối chiếu về sự
hiện diện của các hóa chất được liệt kê trong các Phụ lục A, B và C, cũng như về sự phát tán của chúng trong môi trường khu vực và toàn cầu. Các dàn xếp đó:

(a)             Phải do các Bên thực hiện trên tầm cỡ khu vực nơi thích hợp, tùy theo năng lực tài chính và kỹ thuật, cùng với việc sử dụng các chương trình và cơ chế quan trắc hiện có hết mức có thể và việc tăng cường hài hòa giữa các phương pháp tiếp cận;

(b)         Có thể bổ sung nếu cần, có tính đến những khác biệt giữa các khu vực và năng
lực của các khu vực trong việc thực hiện các hoạt động quan trắc; và

(c)         Phải kèm theo các báo cáo gửi Hội nghị các Bên về các kết quả quan trắc trên
qui mô khu vực và toàn cầu sau những khoảng thời gian do Hội nghị các Bên quy định cụ thể.

3.               Công tác đánh giá nêu trong khoản 1 sẽ được triển khai trên cơ sở các thông tin khoa học, môi trường, kỹ thuật và kinh tế hiện có, bao gồm:

(a)             Các báo cáo và thông tin quan trắc khác phải cung cấp theo đúng quy định ở

khoản 2;

(b)             Các báo cáo quốc gia được trình theo đúng quy định tại Điều 15; và

(c)             Các thông tin về việc không tuân thủ phải cung cấp chiểu theo các thủ tục quy

định tại Điều 17.

 

ĐIỀU 17

Không tuân thủ

Càng sớm càng tốt, Hội nghị các Bên sẽ xây dựng và phê duyệt các thủ tục và cơ cấu thể chế để xác định việc không tuân thủ các điều khoản quy định của Công ước và để xử lý các Bên được phát hiện là không tuân thủ.

 

ĐIỀU 18

Giải quyết bất đồng

1.               Các Bên phải giải quyết bất kỳ bất đồng nào xảy ra giữa họ liên quan đến việc
diễn dịch hay áp dụng Công ước thông qua thương lượng hay các giải pháp hòa bình khác
theo sự lựa chọn riêng của họ.

2.               Khi thông qua, công nhận, phê chuẩn hoặc tham gia Công ước, hoặc vào bất kỳ
thời gian nào sau đó, một Bên không phải là một Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực, được
phép gửi văn bản về bất kỳ một bất đồng nào liên quan đến việc diễn dịch hay áp dụng Công ước này cho Đầu mối Lưu chiểu của Công ước để tuyên bố thừa nhận một hay cả hai biện pháp giải quyết bất đồng sau đây có tính bắt buộc trong mối tương quan với một Bên nào đó cũng chấp nhận nghĩa vụ bắt buộc đó:

(a)             Phân xử trọng tài càng sớm càng tốt theo các thủ tục được thông qua bởi Hội

nghị các Bên trong một phụ lục;

(b)             Đưa ra Tòa án Quốc tế.

3.               Một Bên là một Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực được phép đưa ra tuyên bố với ý định tương tự về phân xử trọng tài theo thủ tục quy định đã nêu ở khoản 2 (a).

4.               Một một tuyên bố chiểu theo khoản 2 hoặc khoản 3 sẽ có hiệu lực cho đến khi
tuyên bố đó hết hạn theo các điều kiện của tuyên bố, hoặc cho đến 3 tháng sau khi văn bản
thông báo thu hồi tuyên bố đó được nộp cho Đầu mối Lưu chiểu.

5.               Khi tuyên bố hết hạn, thông báo thu hồi hoặc tuyên bố mới sẽ không ảnh
hưởng đến các thủ tục tố tụng dưới bất kỳ hình thức nào trước khi có phán quyết của tòa trọng tài hoặc Tòa án Quốc tế, trừ phi các Bên có bất đồng thỏa hiệp được theo một cách khác.

6.               Khi các Bên liên quan đến một bất đồng chưa chấp nhận thủ tục tương tự hoặc
bất kỳ thủ tục nào chiểu theo khoản 2, và nếu họ không có khả năng giải quyết bất đồng trong
vòng 12 tháng kể từ khi một Bên thông báo cho bên kia về một bất đồng vẫn tồn tại giữa hai Bên, thì bất đồng đó sẽ được chuyển cho một ủy ban hòa giải theo yêu cầu của bất kỳ một Bên có bất đồng nào. ủy ban hòa giải sẽ đưa ra báo cáo với những kiến nghị. Các thủ tục bổ sung liên quan đến ủy ban hòa giải sẽ được đưa vào một phụ lục để cho Hội nghị các Bên thông qua chậm nhất là vào cuộc họp thứ 2 của mình.

 

ĐIỀU 19

Hội nghị các Bên

1.               Hội nghị các Bên phải được tổ chức.

2.               Cuộc họp đầu tiên của Hội nghị các Bên sẽ do Giám đốc Điều hành Chương trình Môi trường Liên hợp Quốc triệu tập, chậm nhất là một năm kể từ khi Công ước này có hiệu lực. Sau đó, các cuộc họp thường kỳ của Hội nghị các Bên sẽ được tổ chức vào những khoảng thời gian định kỳ do Hội nghị các Bên quyết định.

3.               Các cuộc họp bất thường của Hội nghị các Bên sẽ được tổ chức vào những thời gian khi Hội nghị các Bên thấy cần thiết, hoặc theo yêu cầu của bất kỳ một Bên nào đó với điều kiện được ít nhất là một phần ba số lượng các Bên ủng hộ.

4.               Tại cuộc họp đầu tiên của mình, Hội nghị các Bên phải đồng lòng nhất trí để
thông qua các quy định về thủ tục và quy định về tài chính của Hội nghị các Bên và của bất
kỳ tổ chức trực thuộc nào, cũng như những khoản cung cấp tài chính cho các hoạt động của Ban Thư ký.

5.               Hội nghị các Bên sẽ duy trì công tác xem xét và đánh giá việc thực hiện Công
ước một cách thường xuyên liên tục. Hội nghị các Bên thực hiện các chức năng được Công ước giao và để hoàn thành chúng, Hội nghị các Bên sẽ:

(a)             Ngoài các yêu cầu ở khoản 6, thành lập các cơ quan trực thuộc nếu Hội nghị các Bên thấy chúng cần thiết cho việc thực hiện Công ước;

(b) Nếu thích hợp, sẽ hợp tác với các tổ chức quốc tế có thẩm quyền và các tổ chức liên chính phủ và phi chính phủ; và

(c)         Xét duyệt thường xuyên tất cả các thông tin được cung cấp cho các Bên theo
quy định của Điều 15, kể cả việc xem xét tính hiệu lực của khoản 2 (b) (iii) của Điều 3;

(d)             Cân nhắc tiến hành bất kỳ hành động bổ sung nào thấy cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu của Công ước.

6.               Tại cuộc họp đầu tiên của mình, Hội nghị các Bên sẽ lập ra một cơ quan trực
thuộc, gọi là ủy ban Xét duyệt các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy với mục đích thực hiện các chức năng được Công ước chỉ định cho ủy ban này. Về vấn đề này:

(a)             Các thành viên của ủy ban Xét duyệt các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy sẽ
do Hội nghị các Bên chỉ định. Thành viên của ủy ban sẽ bao gồm các chuyên gia đánh giá và quản lý hóa chất do Chính phủ chỉ định. Các thành viên của ủy ban sẽ được chỉ định trên cơ sở phân bổ đều theo địa lý;

(b)             Hội nghị các Bên sẽ quyết định các quy định về chức năng nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của ủy ban Xét duyệt; và

(c)         ủy ban Xét duyệt sẽ thực hiện mọi nỗ lực để đồng lòng nhất trí thông qua các
kiến nghị của mình. Nếu mọi nỗ lực đều không có kết quả và không đạt được sự nhất trí, thì
các kiến nghị đó cuối cùng sẽ được bỏ phiếu để thông qua với hai phần ba số phiếu của các thành viên có mặt và bỏ phiếu.

7.               Tại cuộc họp lần thứ 3 của mình, Hội nghị các Bên sẽ đánh giá yêu cầu tiếp tục cho thủ tục nêu trong khoản 2 (b) của Điều 3 Hội nghị các Bên, xem xét cả tính hiệu lực của thủ tục đó.

8.               Liên hợp Quốc, các cơ quan chuyên môn của Liên hợp Quốc và Cơ quan Năng
lượng Nguyên tử Quốc tế, cũng như bất kỳ nước nào không phải là Bên tham gia Công ước, đều được phép gửi đại diện của mình đến các cuộc họp của Hội nghị các Bên với tư cách là quan sát viên. Bất kỳ một tổ chức hay cơ quan nào, với tư cách quốc gia hay quốc tế, chính phủ hay phi chính phủ, mà có sự am hiểu các vấn đề mà Công ước đề cập và đã thông báo cho Ban Thư ký mong muốn được cử đại diện của mình đến cuộc họp của Hội nghị các Bên với tư cách là quan sát viên, đều có thể được chấp nhận, trừ phi có sự phản đối của ít nhất một phần ba số lượng các Bên có mặt. Việc chấp nhận và tham gia của các quan sát viên sẽ phải tuân theo các thủ tục quy định do Hội nghị các Bên thông qua.

 

ĐIỀU 20

Ban Thư ký

1.               Như vậy, một Ban thư ký phải được thành lập.

2.               Các chức năng của Ban Thư ký gồm:

(a)             Bố trí các cuộc họp của Hội nghị các Bên và các tổ chức trực thuộc của Hội nghị các Bên, cũng như đảm bảo các dịch vụ cho những cuộc họp này khi cần;

(b)             Tạo điều kiện hỗ trợ các Bên, nhất là các Bên là nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi trong việc thực hiện Công ước, khi có yêu cầu giúp đỡ;

(c)             Đảm bảo sự phối hợp cần thiết với các ban thư ký của các tổ chức quốc tế liên quan khác;

(d)         Sửa soạn và cung cấp các báo cáo định kỳ cho các Bên trên cơ sở các thông tin
được nhận theo quy định của Điều 15 cũng như các thông tin khác sẵn có;

(e)             Khi cần có thể tham gia thu xếp công tác hành chính và hợp đồng dưới sự
hướng dẫn toàn diện của Hội nghị các Bên nhằm thực hiện có hiệu quả các chức năng của
Ban Thư ký; và

(f)          Thực hiện các chức năng khác của Ban Thư ký được quy định trong Công ước,
cũng như các chức năng khác mà Hội nghị các Bên có thể quyết định.

3.               Các chức năng của Ban Thư ký cho Công ước này sẽ được thực hiện bởi Giám đốc Điều hành của Chương trình Môi trường Liên hợp Quốc, trừ phi Hội nghị các Bên quyết định ủy thác các chức năng của Ban thư ký cho một hoặc nhiều tổ chức quốc tế khác sau khi có 3/4 số các Bên có mặt và bỏ phiếu.

 

ĐIỀU 21

Sửa đổi bổ sung Công ước

1.               Bất kỳ Bên nào cũng đều được phép đề xuất sửa đổi bổ sung Công ước.

2.               Những sửa đổi bổ sung đối với Công ước này sẽ được thông qua tại cuộc họp

của Hội nghị các Bên. Ban Thư ký sẽ gửi văn bản của bất kỳ đề xuất sửa đổi bổ sung nào tới tất cả các Bên, chậm nhất là 6 tháng trước khi tiến hành cuộc họp thông qua đề xuất sửa đổi bổ sung đó. Ban Thư ký cũng sẽ thông báo những đề xuất sửa đổi bổ sung tới các Bên ký kết Công ước này và thông báo cho Đầu mối Lưu chiểu.

3.               Các Bên sẽ dành mọi nỗ lực để đạt được sự nhất trí về bất kỳ đề xuất sửa đổi
bổ sung nào trong Công ước. Nếu tất cả các nỗi lực đó đều không mang lại kết quả và không
đạt được sự nhất trí, thì cuối cùng đề xuất sửa đổi bổ sung đó phải được thông qua bằng số phiếu của 3/4 số các Bên có mặt và bỏ phiếu.

4.               Đầu mối lưu chiểu sẽ thông báo việc sửa đổi bổ sung cho tất cả các Bên để thông qua, công nhận hay phê chuẩn.

5.               Việc thông qua, công nhận hay phê chuẩn một sửa đổi bổ sung phải được
thông báo bằng văn bản cho Đầu mối Lưu chiểu. Một sửa đổi bổ sung được xem xét theo
khoản 3 sẽ có hiệu lực đối với các Bên đã chấp nhận sửa đổi bổ sung đó sau 90 ngày kể từ
ngày nộp lưu chiểu các văn kiện thông qua, công nhận hay phê chuẩn của ít nhất 3/4 số các
Bên. Sau đó, sửa đổi bổ sung đó sẽ có hiệu lực đối với bất kỳ Bên nào khác sau 90 ngày kể từ ngày Bên đó nộp lưu chiểu văn kiện thông qua, công nhận hay phê chuẩn của mình đối với sửa đổi bổ sung đó.

 

ĐIỀU 22

Thông qua và sửa đổi bổ sung các phụ lục

1.               Các phụ lục kèm theo Công ước này sẽ là phần không thể tách rời của Công
ước, và trừ phi có những trường hợp đặc biệt khác, một vấn đề liên quan tới Công ước này
đồng thời cũng là vấn đề liên quan đối với bất kỳ phụ lục nào. 2.    Bất kỳ phụ lục bổ sung
nào cũng chỉ được giới hạn trong các vấn đề thủ tục, khoa học, kỹ thuật hoặc hành chính.

3.               Thủ tục quy định dưới đây sẽ áp dụng đối với việc đề xuất, thông qua và đưa
vào hiệu lực cho các phụ lục bổ sung kèm theo Công ước này:

(a)             Các phụ lục bổ sung sẽ được đề xuất và thông qua theo thủ tục quy định tại các khoản 1, 2 và 3 của Điều 21;

(b)         Bất kỳ Bên nào không thể chấp nhận một phụ lục bổ sung, thì phải thông báo
cho Đầu mối Lưu chiểu bằng văn bản trong vòng một năm kể từ ngày Đầu mối Lưu chiểu
thông báo về việc thông qua phụ lục bổ sung đó. Đầu mối lưu chiểu sẽ thông báo ngay lập tức cho tất cả các Bên về bất kỳ thông báo nào nhận được. Vào bất kỳ thời gian nào, một Bên được phép rút lại thông báo trước đây của mình về việc họ sẽ không tuân thủ một phụ lục bổ sung nào đó, và ngay sau đó, phụ lục đó sẽ có hiệu lực đối với Bên này theo quy định ở mục (c); và

(c)         Khi hết hạn một năm kể từ ngày Đầu mối Lưu chiểu thông báo về việc thông
qua một phụ lục bổ sung, phụ lục đó sẽ có hiệu lực đối với tất cả các Bên chưa có thông báo theo các quy định tại mục (b).

4.               Việc đề xuất, thông qua và đưa vào hiệu lực của các sửa đổi bổ sung đối với
phụ lục A, B hay C phải tuân theo các thủ tục quy định tương tự như việc đề xuất, thông qua và đưa vào hiệu lực của các phụ lục bổ sung đối với Công ước này, ngoại trừ việc một sửa đổi bổ sung trong Phụ lục A, B hay C sẽ không có hiệu lực đối với bất kỳ Bên nào đã ra tuyên bố liên quan đến sửa đổi bổ sung các phụ lục đó như theo quy định tại khoản 4 của Điều 25, trong trường hợp này thì bất kỳ sửa đổi bổ sung nào như vậy đều sẽ có hiệu lực đối với Bên đó sau 90 ngày kể từ ngày Bên đó gửi cho Đầu mối Lưu chiểu văn kiện thông qua, công nhận, phê chuẩn hay tham gia liên quan đến sửa đổi bổ sung này.

5.               Thủ tục quy định dưới đây sẽ áp dụng đối với việc đề xuất, thông qua và đưa
vào hiệu lực của một sửa đổi bổ sung trong Phụ lục D, E hay F:

(a)             Những sửa đổi bổ sung được đề xuất theo thủ tục quy định tại các khoản 1 và 2 của Điều 21;

(b)             Các Bên phải nhất trí quyết định về một sửa đổi bổ sung trong phụ lục D, E hay F; và

(c)         Đầu mối lưu chiểu sẽ lập tức thông báo quyết định sửa đổi bổ sung Phụ lục D,
E hoặc F cho các Bên. Sửa đổi bổ sung đó sẽ có hiệu lực đối với tất cả các Bên vào ngày được ghi trong quyết định.

6.               Nếu một phụ lục bổ sung hay một một sửa đổi trong một phụ lục có liên quan
đến một sửa đổi bổ sung đối với Công ước này, thì phụ lục bổ sung đó hay sửa đổi đó sẽ
không có hiệu lực cho đến khi sửa đổi bổ sung đối với Công ước có hiệu lực.

 

ĐIỀU 23

Quyền bỏ phiếu

1.               Mỗi Bên tham gia Công ước sẽ có một lá phiếu, trừ trường hợp quy định tại khoản 2.

2.               Một Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực, trong các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình, sẽ thực hiện quyền bỏ phiếu với số phiếu tương đương với số các nước thành viên của  tổ chức mà đồng thời là các Bên tham gia Công ước này. Tổ chức đó sẽ không được thực hiện quyền bỏ phiếu, nếu bất kỳ nước thành viên nào trong tổ chức thực hiện quyền bỏ phiếu, và ngược lại.

 

ĐIỀU 24
Ký kết

Công ước này sẽ để ngỏ để tất cả các quốc gia và các Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực ký tại Stockholm ngày 23 tháng 5 năm 2001, và tại Trụ sở Liên hợp Quốc ở New York từ ngày 24 tháng 5 năm 2001 đến 22 tháng 5 năm 2002.

 

ĐIỀU 25

Thông qua, công nhận, phê chuẩn hoặc tham gia

1.               Công ước này bắt buộc phải được các nước và các Tổ chức hội nhập kinh tế
khu vực thông qua, công nhận hoặc phê chuẩn. Công ước sẽ được bỏ ngỏ để các nước và các Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực tham gia kể từ thời gian sau khi hết hạn ký kết Công ước. Các văn kiện thông qua, công nhận, phê chuẩn hoặc tham gia sẽ được nộp cho Đầu mối Lưu  chiểu.

2.               Bất kỳ Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực nào trở thành một Bên tham gia Công
ước này mà không có bất kỳ một nước thành viên là một Bên, thì sẽ bị rằng buộc với tất cả
các nghĩa vụ theo quy định của Công ước. Trường hợp những tổ chức như vậy có một hoặc nhiều nước thành viên là Bên tham gia Công ước này, thì tổ chức đó và các nước thành viên của nó sẽ quyết định từng trách nhiệm của họ để thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Công ước. Trong các trường hợp này, tổ chức đó và các nước thành viên của nó sẽ không được thực hiện các quyền theo quy định hiện hành của Công ước.

3.               Trong các văn kiện thông qua, công nhận, phê chuẩn hoặc tham gia, một Tổ
chức hội nhập kinh tế khu vực sẽ tuyên bố phạm vi quyền hạn của mình đối với các vấn đề
thuộc quản lý của Công ước. Đồng thời, bất kỳ tổ chức nào như vậy cũng đều phải thông báo cho Đầu mối Lưu chiểu, vốn làm trung gian thông báo tiếp cho các Bên, về bất cứ thay đổi trong phạm vi quyền hạn nào liên quan của tổ chức mình.

4.               Trong các văn kiện thông qua, công nhận, tán phê chuẩn hoặc tham gia, bất kỳ
một Bên nào cũng đều được phép tuyên bố bất kỳ sửa đổi bổ sung nào đối với phụ lục A, B
hay C sẽ chỉ có hiệu lực đối với mình sau khi bên đó nộp lưu chiểu các văn kiện thông qua,
công nhận, phê chuẩn hoặc tham gia.

 

ĐIỀU 26

Đưa vào hiệu lực

1.               Công ước này sẽ có hiệu lực sau 90 ngày kể từ ngày văn kiện thông qua, công

nhận, phê chuẩn hoặc tham gia thứ 50 được nộp lưu chiểu.

2.               Đối với mỗi Quốc gia hay Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực nào thông qua,
công nhận hoặc phê chuẩn Công ước rồi tham gia sau khi văn kiện thông qua, công nhận, phê chuẩn hoặc tham gia thứ 50 được nộp lưu chiểu, thì Công ước sẽ có hiệu lực sau 90 ngày kể từ ngày Quốc gia đó hay Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực đó nộp lưu chiểu văn kiện thông qua, công nhận, phê chuẩn hoặc tham gia của mình.

 3.               Vì các mục đích nêu trong các khoản 1 và 2, bất kỳ văn kiện nào được một Tổ chức hội nhập kinh tế khu vực nộp lưu chiểu, sẽ không được tính là văn kiện bổ sung cho các văn kiện được các nước thành viên của tổ chức đó đã nộp lưu chiểu.

 

ĐIỀU 27

Bảo lưu

Không có quyền bảo lưu nào được thực hiện đối với Công ước này.

 

 

ĐIỀU 28

Rút khỏi Công ước

1.               Sau 3 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực đối với một Bên, thì Bên đó được phép rút khỏi Công ước vào bất kỳ lúc nào bằng cách gửi văn bản thông báo cho Đầu mối Lưu chiểu.

2.               Bất kỳ việc rút khỏi Công ước nào đều có hiệu lực sau thời hạn 1 năm kể từ
ngày Đầu mối Lưu chiểu nhận được thông báo rút khỏi Công ước, hoặc vào một thời điểm
chậm hơn được đưa ra trong thông báo rút khỏi Công ước.

 

ĐIỀU 29

Đầu mối Lưu chiểu

Tổng Thư ký Liên hợp Quốc là Đầu mối Lưu chiểu của Công ước này.

 

ĐIỀU 30

Các nguyên bản chính thống

Nguyên bản chính thống của Công ước bao gồm các bản gốc bằng tiếng Arập, Trung, Anh, Pháp, Nga và Tây Ban Nha, đều có giá trị như nhau và sẽ được nộp lưu chiểu cho Tổng Thư ký Liên hợp Quốc.

ĐỂ LÀM CHỨNG, những người có đủ thẩm quyền dưới đây đã ký Công ước này.
Thực hiện tại Stockholm ngày hai mươi hai, tháng Năm, năm hai ngàn linh một.

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Điều 1 - 15 của Công ước

Điều 16 - 30 của Công ước

Phụ lục của Công ước

 

Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung