Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 5, 2/10/2014, 19h:18:49
Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường > Trang chủ > Truyền thông > Tạp chí môi trường > Môi trường và phát triển > Bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản: Cần một giải pháp đồng bộ và lâu dài
Bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản: Cần một giải pháp đồng bộ và lâu dài
10/4/2011 8:27:18 AM

Những năm gần đây, tình trạng ô nhiêm môi trường trong khai thác khoáng sản (KTKS) đã được các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đã được m xẻ kỹ lưỡng và nhiều giải pháp đã được đưa ra. Trong khuôn khô bài viết này, chúng tôi tập trung vào công tác bảo vệ môi trường (BVMT) trong hoạt động KTKS.

BVMT trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản có thể tạm chia làm 3 khía cạnh như sau: BVMT trong khu vực khai thác và chế biến khoáng sản; Ngoài khu vực khai thác và chế biến khoáng sản; Sau khi kết thúc hoạt động KTKS.

Bảo vệ môi trường trong khu vực khai thác khoáng sản

Nói một cách hình tượng thì môi trường trong khu vực KTKS là môi trường trong hàng rào của doanh nghiệp và do doanh nghiệp quản lý, bao gồm các khai trường, xưởng chế biến, bãi thải... Luật BVMT năm 2005 quy định tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm phải có trách nhiệm xử lý ô nhiễm. Trong lĩnh vực KTKS thì đơn vị khai thác phải thực hiện các hạng mục BVMT theo Báo cáo Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) hay cam kết BVMT. Hầu hết, các dự án khai thác chế biến khoáng sản đều đã thực hiện lập ĐTM nhưng vẫn còn mang tính đối phó, hình thức và hợp lý hóa hồ sơ. Nhiều quy hoạch khoáng sản kể cả cấp Trung ương (như quy hoạch thăm dò khai thác, chế biến bôxít, titan, crom, mangan...) và các quy hoạch cấp địa phương chưa lập hoặc chưa hoàn thành báo cáo Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC).

Theo nghiên cứu của Viện Tư vấn Phát triển (CODE, 2010), ở nhiều vùng KTKS cho thấy, báo cáo ĐTM được lập nhưng công tác quản lý, giám sát BVMT của các cơ quan quản lý nhà nước chưa được thực hiện tốt, đặc biệt là vai trò tham gia giám sát của các tổ chức xã hội, cộng đồng địa phương còn hạn chế. Tình trạng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong khai thác và chế biến khoáng sản vẫn diễn ra như vụ xả nước, đất đá ra suối của Công ty khai thác than Vietmindo (Quảng Ninh), ô nhiễm môi trường ở mỏ sắt Văn Chấn, Yên Bái năm 2011...

Bảo v môi trường ngoài khu vực khai thác và chế biến khoáng sản

BVMT ngoài khu vực khai thác và chế biến khoáng sản được chính quyền địa phương tiến hành vi nguồn kinh phí từ phí BVMT và ngân sách của địa phương. Phí BVMT được doanh nghiệp nộp hàng tháng dựa theo sản lượng khai thác theo hướng dẫn của Thông tư số 67/2008/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành. Đây là một khoản thu lớn mà địa phương được giữ lại toàn bộ dùng để chi phí cho các hoạt động BVMT trên địa bàn. Hiện tại, phí BVMT tính theo sản lượng khai thác do doanh nghiệp tự kê khai. Đây là một kẽ hở lớn bởi trên thực tế việc doanh nghiệp khai mức sản lượng thấp hơn nhiều so vói thực tế nhằm trốn một phần phí BVMT là khá phổ biến. Trong khi đó, hầu như không có một cơ chế giám sát sản lượng hoặc việc giám sát còn lỏng lẻo và thiếu hiệu quả. Điều này dẫn ti địa phương thất thu một khoản ngân sách đáng kể để sử dụng trong hoạt động BVMT. Kết quả là môi trường không được bảo vệ tương xứng do thiếu nguồn kinh phí.

Mặt khác, việc sử dụng nguồn phí BVMT không được thông báo rộng rãi dẫn đến một thực tế là người dân thường đổ lỗi cho doanh nghiệp về vấn đề ô nhiễm môi trường, trong khi doanh nghiệp đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối vi Nhà nước về vấn đề BVMT theo quy định của pháp luật. Qua thực tế cho thấy, phí BVMT đôi khi không được sử dụng đúng mục đích, chẳng hạn dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng không có chức năng BVMT như nhà văn hóa, đường giao thông... Ngoài ra, cơ chế phân bổ nguồn ngân sách này cũng còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Cụ thể, ở nhiều địa phương, nguồn ngân sách phân bổ dựa theo đề xuất của từng quận/huyện và phê duyệt của UBND tỉnh mà đại diện là Sở Kế hoạch và Đầu tư chứ không hoàn toàn dựa theo mức độ tác động của hoạt động khai mỏ tới môi trường ở một địa điểm cụ thể nào. Như vậy, sự không rõ ràng trong việc phân bổ nguồn kinh phí cho hoạt động BVMT giữa các vùng khác nhau cùng vi tình trạng thiếu công khai thông tin liên quan ti nguồn ngân sách này nên đã tác động tiêu cực ti hoạt động quản lý nguồn thu từ khoáng sản.

Có thể nói, việc thiếu công khai thông tin về nguồn thu phí BVMT, cùng vi sự thiếu trách nhiệm của doanh nghiệp, thiếu cơ chế giám sát sản lượng là những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng suy thoái môi trường nghiêm trọng tại các vùng KTKS trong suốt thời gian qua. Trong bối cảnh Luật Khoáng sản 2010 và những văn bản pháp luật đi kèm chưa giải quyết triệt để các bất cập nêu trên thì tình trạng ô nhiễm môi trường ở vùng khai mỏ có thể vẫn tiếp diễn trong thi gian ti.

Bảo vệ môi trường khu vực sau khai thác

Bảo vệ và phục hồi môi trường khu vực sau khai thác được hướng dẫn theo Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008. Trong đó quy định các đơn vị đang KTKS phải lập dự án bổ sung cải tạo phục hồi môi trường và thẩm định trước 31/12/2008. Tuy nhiên, việc thẩm định không được tiến hành do việc chậm ban hành thông tư hướng dẫn Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg. Cho tới 31/12/2009 (muộn hơn 1 năm) kể từ khi Quyết định số 71/2008 có hiệu lực thì Thông tư số 34/2008/TT-BTNMT mới được ban hành và bắt đầu có hiệu lực từ 15/2/2010. Như vậy, trong suốt thòi gian từ 31/12/2008 đến 15/2/2010, rất nhiều công ty ở các địa phương không thể tiến hành ký quỹ BVMT theo quy định của pháp luật. Trong thực tế, hầu hết các tỉnh chỉ mới thành lập Quỹ BVMT từ năm 2010. Tính đến cuối năm 2009, có khoảng 389 giấy phép KTKS do Bộ TN&MT và Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) cấp, 3.882 Giấy phép khai thác do UBND các tỉnh cấp. Tuy nhiên, theo số liệu của Quỹ BVMT Việt Nam, KTKS ký quỹ tại Quỹ Môi trường Việt Nam đến nay có 86 dự án. Do vậy, có thể thấy rõ vấn đề ký quỹ BVMT đã không được tiến hành tốt trong thời gian qua.

Bên cạnh đó, việc cải tạo, phục hồi môi trường ở nhiều nơi chưa được tuân thủ chặt chẽ. Ví dụ, như ở các mỏ khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Tại các khu khai thác lộ thiên, phần lớn công tác quy hoạch bãi thải do Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và các công ty tự xây dựng. Các bãi thải đổ đất đá quá cao, có những bãi gần các khu dân cư và nơi họp thủy của các dòng sông. Theo quy trình chuẩn thì việc đổ đất đá thải dần từ dưới lên, song tại một số bãi thải thì đất đá được đổ từ trên xuống. Việc hoàn thổ không được thực hiện đúng theo các yêu cầu và quy định trong khai khoáng. Như vậy, nguy cơ gây nên hiện tượng trượt và sụt lở chất thải xuống các khu dân cư, bồi đắp làm tắc nghẽn sông suối, các tuyến tiêu thoát nước ra sông, biển khi mưa to và lũ lụt là khá lớn. Hiện nay, có một số bãi thải đã đảm bảo an toàn môi trường như bãi thải mỏ Nam Lộ Phong, tuy nhiên bãi thải của các công ty ở Bắc Núi Béo và mỏ Cao Sơn đang chứa đựng những nguy cơ lớn về sạt lở đất đá. Bãi thải của mỏ Núi Béo hiện chưa được trồng cây và chưa cắt tầng.

Tóm lại, trong những năm qua, hoạt động KTKS ở nhiều địa phương đã gây ra tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng, gây ảnh hưởng không nhỏ tới hệ động, thực vật cũng như cuộc sống của cộng đồng địa phương. Đứng trước tình hình đó, cơ quan quản lý Trung ương và địa phương đã có nhiều nỗ lực nhằm giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường ở các vùng khai mỏ như việc tăng cường kiểm tra, giám sát, ban hành và thực thi các văn bản pháp lý. Luật Khoáng sản 2010 cũng tăng cường các điểm về BVMT, tuy nhiên đây chỉ là luật khung cho các văn bản dưới luật. Để môi trường tại các vùng khai mỏ được đảm bảo, ngoài việc tăng cường giám sát và kiểm tra của cơ quan chức năng thì cũng cần có những quy định pháp lý nhằm bổ sung các khiếm khuyết của các văn bản pháp luật như tăng cường tính minh bạch, công bố thông tin, trách nhiệm giải trình, sự tham gia của các tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương trong kiểm tra và giám sát việc BVMT.

ThS. Trần Trung Kiên

Viện Tư vấn Phát triển - CODE

Chuyên đề bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản
Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung
 
 
 
THỐNG KÊ
IP truy cập: 2407
Truy cập ngày: 17.260
Tổng truy cập: 39.937.968