Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 6, 18/4/2014, 14h:55:12
Về chi sự nghiệp bảo vệ môi trường
11/19/2010 3:27:02 AM
1. Tình hình thực hiện các chỉ tiêu về môi trường trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

Quốc hội Khóa XII, tại Kỳ họp thứ 6 (tháng 10-11/2009) đã thảo luận và thông qua Kế hoạch phát triển tế năm 2010, kế hoạch phân bổ ngân sách năm 2010 tại và các chỉ tiêu về môi trường.

Tại kỳ họp thứ 8 đang diễn ra tại thủ đô Hà Nội, Chính phủ đã có Báo cáo số 145 ngày 17/10/2010 trình Quốc hội, trong đó đánh giá việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ năm 2010, và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, cũng như dự kiến khả năng hoàn thành kế hoạch 5 năm 2006 – 2010. Theo báo cáo trên, dự kiến sẽ có 16/21 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra. Như vậy, có 5/21 chỉ tiêu không đạt kế hoạch, trong đó có 4 chỉ tiêu trong nhóm các chỉ tiêu môi trường. Đó là:

Chỉ tiêu

Đơn vị

Chỉ tiêu

Quốc hội

Ước TH

năm 2010

Tỷ lệ dân số đô thị được sử dụng nước sạch

%

84

76

Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý

%

70

67,9

Tỷ lệ chất thải rắn ở đô thị được thư gom

%

85

82

Tỷ lệ che phủ rừng

%

40

39,5

Tuy nhiên, theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường và kết quả phối hợp giám sát của Ủy ban KHCNMT của Quốc hội về tình hình xử lý triệt để các cơ sở gâu ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại một số Bộ, ngành vừa qua, riêng chỉ tiêu về tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đã đạt 74%, vượt chỉ tiêu Quốc hội đề ra.

Cũng trong báo cáo này, trong giai đoạn 2006 -2010, 5/6 chỉ tiêu quan trọng nhóm các chỉ tiêu về môi trường đã không hoàn thành, cụ thể là:

Chỉ tiêu

Đơn vị

Kế hoạch

2006-2010

Ước TH

năm 2010

Tỷ lệ dân số thành thị được sử dụng nước sạch

%

95

76

Tỷ lệ KCN, KCX đã thành lập và đi vào hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập chung đạt tiêu chuẩn môi trường

%

100

50

Tỷ lệ thu gom chất thải rắn ở đô thị

%

90

82

Tỷ lệ che phủ rừng

%

42 - 43

39,5

Tỷ lệ thu gom chất thải y tế được xử lý đạt tiêu chuẩn MT

%

100

80

Đánh giá đối với năm 2010 “Việc bảo vệ môi trường và hạn chế tổn thất tài nguyên khoáng sản chưa được khắc phục, ô nhiễm môi trường gia tăng”[1]

Đánh giá về BVMT trong kế hoạch 2006 – 2010, “Tình trạng ô nhiễm môi trường là một trong vấn đề lớn gây bức xúc trong nhân dân. Hầu hết các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường, khắc phục ô nhiễm đều không đạt kế hoạch”[2].

Tại các phiên thảo luận, chất vấn trong tất cả các kỳ họp của Quốc hội Khóa XII, vấn đề môi trường và tài nguyên luôn là một trong những nội dung được thảo luận sôi nổi và có nhiều ý kiến gay gắt nhất. Nhìn lại những năm qua, chúng ta có thể thấy rằng ngay trong cơ cấu, tổ chức các Sở Tài nguyên và Môi trường thì mảng công tác bảo vệ môi trường cũng còn yếu so với mảng quản lý đất đai và tài nguyên.

2. Những tồn tại trong công tác BVMT

Tổng kết quá trình giám sát trong 2 Khóa Quốc hội gần đây – Khóa XI và XII về hoạt động BVMT, xử lý ô nhiễm môi trường, Chúng tôi có một số nhận định về nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay. Cụ thể là:

2.1.  Công tác hướng dẫn thi hành chính sách, pháp luật:

Chính phủ, Bộ TN&MT, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành một số văn bản hướng dẫn Luật. Tuy nhiên, vẫn cần phải khẩn trương ban hành thêm một số văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể, chi tiết hơn, phù hợp với thực tế và thống nhất với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

2.2. Tổ chức bộ máy quản lý môi trường ở các ngành, địa phương:

Từ năm 2007 đến nay, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về BVMT từ tỉnh đến xã của các địa phương đã được kiện toàn. Ở cấp tỉnh có Sở TN&MT; ở cấp huyện đã thành lập Phòng TN&MT; ở cấp xã đã có cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm về môi trường.

Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý về lĩnh vực BVMT của các Bộ, ngành, địa phương còn thiếu và chưa đáp ứng nhu cầu chuyên môn, nhiều người hoạt động kiêm nhiệm, tỷ lệ người được đào tạo cơ bản về lĩnh vực môi trường còn thấp.

 

2.3.  Về công tác quy hoạch:

Quy hoạch khu công nghiệp (KCN), khu đô thị (KĐT) còn nhiều bất cập. Nhiều KCN được quy hoạch sát khu đô thị, các dòng sông, trục giao thông và các khu vực nhạy cảm về môi trường; quy hoạch chưa có đủ cơ sở khoa học, chưa tính đến các yếu tố tự nhiên và xã hội nên tính khả thi thấp. Các địa phương đều đã có quy hoạch khu đô thị, khu kinh tế, KCN nhưng chưa đủ nguồn lực thực hiện quy hoạch, nhất là việc huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các KCN, KĐT và công trình thu gom xử lý nước thải (XLNT), rác thải. Cơ sở hạ tầng cấp thoát nước, thu gom và XLNT, chất thải của hầu hết các đô thị không đáp ứng yêu cầu BVMT. Nước thải sinh hoạt và nước mưa cùng thoát chung vào một hệ thống. Trong số các KCN hiện nay, có 74 KCN đã đầu tư và đưa vào hoạt động các nhà máy xử lý nước thải tập trung (chiếm 43% số KCN đã vận hành) và 22 KCN đang xây dựng công trình xử lý nước thải, còn lại 75 KCN đang hoạt động chưa có công trình xử lý nước thải. Một số KCN có xây dựng hệ thống XLNT nhưng hầu như không vận hành, ở nhiều nơi có vận hành nhưng nướcthải không đạt TCCP và hoạt động mang tính chất đối phó khi có đoàn kiểm tra, giám sát đến[3].

2.4. Kết quả xử lý các cơ sở gây ÔNMTNT:

Trong tháng 9 và tháng 10 năm 2010, Ủy ban KHCN&MT của Quốc hội đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức đợt giám sát tình hình triển khai Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg đối với một số Bộ, ngành.

Tính đến nay, trong tổng số 439 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải hoàn thành việc xử lý ô nhiễm triệt để, có 325 cơ sở không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chiếm 74%  (trong số này có 201 cơ sở đã hoàn thành các biện pháp xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm 45,8%; có 124 cơ sở cơ bản không còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đang hoàn thiện hồ sơ hoặc đang trình Sở Tài nguyên và Môi trường xem xét, cấp quyết định chứng nhận hoàn thành, chiếm 28,2%); và có 114 cơ sở đang triển khai xử lý ô nhiễm triệt để, chiếm 26%.

2.5. Công tác thẩm định và phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường:

Sau khi Luật BVMT 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật được ban hành, việc lập và thẩm định báo cáo môi trường chiến lược (ĐMC), Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và Cam kết BVMT đối với các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, dự án đầu tư có quy mô khác nhau đã được quan tâm hơn. Tuy nhiên, một tỷ lệ đáng kể các báo cáo ĐTM chưa chặt chẽ, thiếu số liệu điều tra cơ bản; công tác dự báo và đề xuất các giải pháp BVMT đối với dự án còn thiếu tính khoa học… Nhiều cơ sở, dự án không tuân thủ yêu cầu đã đề ra trong báo cáo ĐTM; công tác kiểm tra, đôn đốc ở một số địa phương còn thực hiện chưa nghiêm.

 

2.6. Nguồn kinh phí:

Chủ trương chi không dưới 1% ngân sách nhà nước cho sự nghiệp môi trường đã được triển khai. Tuy vậy, qua giám sát cho thấy, nhiều địa phương chưa phân bổ đủ và việc sử dụng nguồn kinh phí này còn dàn trải, kém hiệu quả; có một số địa phương còn sử dụng kinh phí này vào mục đích khác. Việc phân bổ, thực hiện nguồn chi ở nhiều địa phương chưa có sự tham gia của cơ quan chuyên môn (Sở TN&MT); chưa có sự giám sát chặt chẽ của HĐND các cấp. Cơ chế sử dụng các nguồn thu từ thuế, phí BVMT, tiền phạt, nguồn tài trợ ODA, tài trợ phi chính phủ cho BVMT chưa rõ ràng; thiếu sự điều hòa, phối hợp. Tổng kinh phí thu được từ thuế, phí BVMT chưa đủ để đầu tư trở lại cho các công trình xử lý môi trường.

2.7. Hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ BVMT:

Cho đến nay đã hình thành được một số cơ sở sản xuất, chế tạo các thiết bị BVMT, xử lý chất thải như: hệ thống XLNT, thiết bị xử lý chất thải rắn, chất thải y tế, tái chế chất thải; thiết bị quan trắc môi trường. Tuy nhiên, quy mô sản xuất các loại thiết bị này còn nhỏ lẻ và chủ yếu là gia công thiết bị; kiểm định chất lượng công nghệ chưa được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia. Công tác đầu tư, tổ chức nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ BVMT chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng ngành công nghiệp môi trường như quy định tại Điều 108 và Điều 109 của Luật BVMT 2005. Các cơ quan Nhà nước cần ban hành và áp dụng các biện pháp, cơ chế ưu đãi cụ thể đối với các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ quan trắc, phân tích và xử lý ô nhiễm để từng bước hình thành ngành công nghiệp môi trường.

2.8. Về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo:

Công tác hậu kiểm ĐTM chưa được tiến hành thường xuyên, kiên quyết. Số lượng các vụ khiếu kiện về ÔNMT có xu thế ngày càng gia tăng, thậm chí tăng nhanh hơn số các vụ khiếu kiện về đất đai. Đòi hỏi của người dân về môi trường sống lành mạnh, thân thiện ngày càng cao. Hiện nay, mức phạt hành chính tối đa là 500 triệu đồng đối với một hành vi vi phạm và có thể khởi tố hình sự nếu gây ÔNMTNT theo các điều khoản của Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009. Một vấn đề rất cần được thống nhất để thực hiện chủ trương áp dụng hình thức xử lý hình sự đối với tội phạm môi trường theo Chương XVII của Bộ Luật hình sự, cho đến nay vẫn chưa có một cá nhân nào bị xử lý hình sự về tội gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

2.9. Về công tác xã hội hóa, tuyên truyền hoạt động BVMT:

Các hoạt động tuyên truyền đã thu hút được nhiều tổ chức xã hội, doanh nghiệp tham gia; đã hình thành được các tổ thu gom rác thải; phát triển các mô hình tự quản về BVMT trong nhân dân. Một số địa phương đang tiến hành sắp xếp, cổ phần hóa các công ty môi trường đô thị.

Bên cạnh những kết quả ban đầu về xã hội hóa trong công tác BVMT, ở nhiều địa phương hiện nay vẫn đang lúng túng, chưa xác định được mục tiêu, hình thức, biện pháp tổ chức công tác xã hội hóa đối với hoạt động thu gom, xử lý rác thải đô thị.

3. Tình hình phân bổ và thực hiện ngân sách sự nghiệp bảo vệ môi trường (SNBVMT)

Phần chi ngân sách cho SNBVMT năm 2010 là 6.230 tỷ đồng, trong đó 5.250 tỷ đồng chi cho địa phương và 980 tỷ đồng chi cho các bộ, ngành TW[4].

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư dự toán và phân bổ ngân sách 1% cho các bộ, ngành, địa phương. Trong đó, phân bổ đối với các bộ, ngành tập trung vào các lĩnh vực như:

- Hỗ trợ Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn (141 tỷ đồng);

- Xử lý ô nhiễm môi trường tại các cơ sở công ích (48,422 tỷ đồng); bổ sung vốn cho Quỹ BVMT Việt Nam 200 tỷ đồng;

Phân bổ cho các bộ, ngành thực hiện nhiệm vụ BVMT đối với các lĩnh vực bộ, ngành phụ trách;

Phân bổ về các địa phương: các địa phương sẽ được phân bổ dựa trên nhu cầu thực tế, HĐND và UBND các tỉnh triển khai công việc và phân bổ gói kinh phí đã được TW cấp.

Theo Báo cáo số 16/BC-CP của Chính phủ đánh giá thực hiện Ngân sách Nhà nước năm 2010 và dự toán Ngân sách năm 2011 về chi sự nghiệp BVMT:

Chỉ tiêu

Đơn vị

Kết quả

Tỷ lệ

(tỷ đồng/tỷ đồng)

Ước thực hiện cả năm 2010/dự toán 2010

%

127

7.645 /6.230

Dự toán năm 2011/ dự toán năm 2010

%

116

7.250/6.230

Ước thực hiện 2010/thực hiện 2009

%

132

7.650/5.791

Qua các số liệu nêu trên, Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp môi trường được Quốc hội quyết định là bảo đảm chủ trương trên 1% Ngân sách Nhà nước và mức tăng chi cao hơn mức tăng chi của Ngân sách Nhà nước.

Tuy nhiên, việc chi ngân sách còn một số tồn tại chủ yếu sau:

Việc lập dự toán, xây dựng mục chi, điều hành phân bổ, kiểm tra, kiểm soát thực hiện chi ngân sách sự nghiệp BVMT giữa Trung ương và địa phương, giữa các ngành, giữa các địa phương vẫn mang tính bình quân, dàn trải chưa xác đinh rõ mục tiêu chủ yếu để tập trung trọng điểm. Vì vậy, chưa giải quyết triệt để nhưng mục tiêu đề ra.

Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường các cấp từ Trung ương đến địa phương trong việc dự toán, phân bổ và triển khai thực hiện ngân sách còn rất hạn chế, thiếu chủ động, còn mang tính hành chính đơn thuần. Hiện nay ở nhiều địa phương, vai trò của Sở Tài nguyên và Môi trường trong việc tham mưu phân bổ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường bị xem nhẹ, chủ yếu do Sở Tài chính thực hiện. Đề nghị UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương giao Sở Tài nguyên và Môi trường là cơ quan tham mưu phân bổ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường, Sở Tài chính chỉ là cơ quan trình Uỷ ban nhân dân trên cơ sở đề xuất của Sở Tài nguyên và Môi trường.

Chi SNBVMT còn tăng hàng năm nhưng nhìn chung tổng mức chi còn thấp, không đáp ứng yêu cầu; thiếu sự phối hợp lồng ghép chi SNBVMT với các mục chi khác nên dẫn đến tình trạng chồng chéo hoặc bỏ sót, dàn trải, lãng phí.

Tình trạng sử dụng nguồn Ngân sách SNBVMT sai mục đích cho các mục tiêu chi khác còn khá phổ biến ở các địa phương nên dẫn đến việc Ngân sách chi cho SNBVMT đã ít lại càng ít hơn trên thực tế. Đồng thời, công tác xã hội hóa đầu tư cho BVMT còn chậm; Ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn kinh phí chủ yếu.

Để khắc phục tình trạng trên, cần sửa đổi quy trình lập dự toán, phê duyệt, phân bổ, triển khai Ngân sách SNBVMT theo hướng :

- Sớm công khai, dân chủ, khách quan;

- Nâng cao vai trò của cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường ở các cấp;

- Cấp ủy, người đứng đầu cơ quan hành chính (Bộ trưởng, Chủ tịch UBND cấp tỉnh) gương mẫu, kiên quyết trong chỉ đạo thực hiện ngân sách SNBVMT đúng pháp luật;

- Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp giám sát chặt chẽ việc chi SNBVMT ngay từ khâu lập dự toán đến khâu triển khai thực hiện;

- Ngân sách SNBVMT tập trung chi cho các mục tiêu trọng tâm, tăng cường xã hội hóa nguồn đóng góp cho hoạt động BVMT;

- Đề nghị Quốc hội tăng chi cho SNBVMT lên 1,5 – 2% Ngân sách nhà nước giai đoạn 2011 – 2015 kết hợp với tăng cường cơ sở pháp lý, phương thức lập dự toán, phân bổ, kiểm tra giám sát thực hiện phân bổ Ngân sách.

 TSKH. Nghiêm Vũ Khải, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban KH, CN và MT của Quốc hội

[1] Trang 17 Báo cáo 145/BC-CP ngày 15/10/2010 của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.

[2] Trang 21 Báo cáo 145/BC-CP ngày 15/10/2010 của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011.

[3] Nguồn Tổng cục Môi trường cung cấp

[4] Báo cáo 16/BC-CP ngày 15/10/2010, Báo cáo trình Quôc Hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2010 và dự toán Ngân sách Nhà nước năm 2011

Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung