Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ 4, 16/4/2014, 19h:56:10
Cổng thông tin điện tử Tổng cục môi trường > Trang chủ > Khoa học chuyên đề > Hội nghị Khoa học về Đa dạng sinh học: Hiện trạng và suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Hội nghị Khoa học về Đa dạng sinh học: Hiện trạng và suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam.
11/22/2010 7:14:02 AM

 Lê Xuân Cảnh, Hồ Thanh Hải

Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật

Mở đầu

Việt Nam với tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao đã được công nhận là một trong các quốc gia cần được ưu tiên cho bảo tồn toàn cầu. ĐDSH nhìn chung có ba giá trị chính là giá trị bảo vệ thiên nhiên và môi trường (giá trị về chức năng sinh thái), giá trị kinh tế (giá trị sử dụng trực tiếp) và giá trị văn hóa, xã hội.

 Việt Nam đã tham gia Công ước ĐDSH từ năm 1994. Từ đó đến nay Chính phủ Việt Nam đã quan tâm và đầu tư một cách đáng kể cả nhân lực và tài chính để thực thi các cam kết và nghĩa vụ của mình đối với Công ước. Năm 1995 Kế hoạch hành động đa dạng sinh học đầu tiên của Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Kể từ khi ban hành, Kế hoạch này là văn bản có tính pháp lý và là kim chỉ nam cho các hành động  bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.

Tiếp đó ngày 31 tháng 5 năm 2007, Kế hoạch Hành động Quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt với các mục tiêu phù hợp với tình hình phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Để hiểu rõ hơn về những vấn đề trên báo cáo này xin được trình bày về hiện trạng, sự suy thoái và diễn biến trong tương lai của Đa dạng sinh học ở Việt Nam.

I. HIỆN TRẠNG ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA VIỆT NAM

1. Đa dạng hệ sinh thái

Theo các nhà khoa học, có thể chia các hệ sinh thái của Việt Nam thành 3 nhóm chính: hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái thuỷ vực nước ngọt và hệ sinh thái biển. Các hệ sinh thái ở Việt Nam phần lớn là những hệ sinh thái nhạy cảm với các tác động từ bên ngoài, kể cả các tác động của thiên nhiên, cũng như của con người.

a. Hệ sinh thái trên cạn

Trên phần lãnh thổ vùng lục địa ở Việt Nam, có thể phân biệt các kiểu hệ sinh thái trên cạn đặc trưng như: rừng, đồng cỏ, savan, đất khô hạn, đô thị, nông nghiệp, núi đá vôi. Trong các kiểu hệ sinh thái ở cạn, thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã có giá trị kinh tế và khoa học. Các kiểu hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn. Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn. 

b. Hệ sinh thái thuỷ vực nước ngọt

Hệ sinh thái thuỷ vực nước ngọt rất đa dạng bao gồm các thuỷ vực nước đứng như hồ, hồ chứa, ao, đầm, ruộng lúa nước, các thuỷ vực nước chảy như suối, sông, kênh rạch. Trong đó, có một số kiểu có tính đa dạng sinh học cao như suối vùng núi đồi, đầm lầy than bùn, rất nhiều các loài động vật mới cho khoa học đã được phát hiện ở đây. Các hệ sinh thái sông, hồ ngầm trong hang động karst chưa được nghiên cứu.

c. Hệ sinh thái biển

Theo thống kê, Việt Nam có 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình, thuộc 9 vùng phân bố tự nhiên với đặc trưng đa dạng sinh học biển khác nhau, trong đó, bốn vùng biển: Móng Cái-Đồ Sơn, Hải Vân-Đại Lãnh và Đại Lãnh-Vũng Tầu và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có mức đa dạng sinh học cao hơn các vùng còn lại. Các hệ sinh thái biển ven bờ như rừng ngập mặn, đầm phá, vụng biển, vũng biển, rạn san hô, thảm rong biển-cỏ biển và vùng biển quanh các đảo ven bờ là những nơi có tính đa dạng sinh học cao đồng thời rất nhạy cảm với điều kiện biến đổi môi trường.

Bảng 1. Các kiểu hệ sinh thái tiêu biểu của Việt Nam 

Hệ sinh thái

Đặc điểm ĐDSH

Hệ sinh thái trên cạn

Rừng nguyên sinh

ĐDSH giàu, hệ sinh thái bền vững

Rừng thứ sinh

ĐDSH trung bình hoặ nghèo, hệ sinh thái tương đối bền vững

Trảng cỏ

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái đơn giản

Trảng cát ven biển

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững, nhạy cảm.

Núi đất

ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững

Núi đá

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững.

Đồng lúa

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững

Đất trồng cây công nghiệp dài ngày

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái tương đối bền vững

Vườn nhà

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái kém bền vững

Đô thị

ĐDSH rất nghèo, hệ sinh thái kém bền vững

Khu công nghiệp tập trung

ĐDSH rất nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm

Hệ sinh thái ở nước

Nước chảy (suối, sông)

ĐDSH phong phú, hệ sinh thái tương đối bền vững.

Hồ, mặt nước lớn

ĐDSH trung bình, hệ sinh thái tương đối bền vững

Ao, mặt nước nhỏ

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái mẫn cảm

Đầm lầy, đầm lầy than bùn

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái tương đối bền vững

Thủy vực ngầm, hang động

ĐDSH nghèo, hệ sinh thái nhạy cảm

Nước lợ, cửa sông

ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhiều biến động

Biển ven bờ (vùng triều, cứa sông, rừng ngập mặn, rạn san hô, cỏ biển)

ĐDSH giàu, hệ sinh thái nhạy cảm, nhiều biến động

Đảo và vùng nước quanh đảo

ĐDSH giàu, với các đảo xa bờ, hệ sinh thái bền vững hơn các đảo gần bờ.

Biển sâu

ĐDSH giàu, hệ sinh thái bền vững

Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2005, Chuyên đề ĐDSH, đã có sửa đổi

2. Ða dạng loài

Việt Nam là một trong  những nước có  đa dạng sinh học cao về các loài động thực vật và vi sinh vật. Qua các tài liệu điều tra cơ bản, tới nay đã có các con số thống kê như sau:

- Thực vật: Tổng kết các công bố về hệ thực vật Việt Nam, đã ghi nhận có 13.766 loài thực vật. Trong đó, có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999). Tuy hệ thực vật của Việt Nam không có họ đặc hữu và chỉ có khoảng 3% số chi là đặc hữu.

- Động vật ở cạn: cho đến nay đã thống kê và xác định được 307 loài giun tròn (Nematoda), 161 loài giun sán ký sinh ở gia súc, 200 loài giun đất (Oligochaeta), 150 loài ve giáp (Acartia), 113 loài bọ nhảy (Collembola), trên 7700 loài côn trùng (Insecta), 260 loài bò sát (Reptilia), 162 loài ếch nhái (Amphibia), 840 loài chim (Avecs), 310 loài và phân loài thú (Mammalia). Riêng từ năm 2007 tới nay, 1 loài rắn lục (Protobothrops trungkhanhensis Orlov, Ryabov), 5 loài Thằn lằn đá (Cnemaspis caudanivea Grismer và Ngô, Cnemaspis auranticopes Grismer và Ngô, Cnemaspis nuicamensis Grismer và Ngô; Cnemaspis tucdupensis Grismer và Ngô, và Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus Rösler, Nguyễn, Vũ, Ngô & Ziegler) và nhiều loài khác được phát hiện đầu tiên ở Việt Nam và là những loài mới cho khoa học, đã đươc mô tả và công bố.

- Vi sinh vật: đã biết 7.500 loài, trong đó có hơn 2.800 loài gây bệnh cho thực vật, 1.500 loài gây bệnh cho người và gia súc và hơn 700 loài vi sinh vật có lợi.

Bảng 2. Sự phong phú thành phần loài sinh vật

Nhóm sinh vật

Số loài đã xác định được (SV)

Số loài có trên thế giới (SW)

Tỷ lệ % giữa SV/SW

1.Thực vật nổi

Khoảng 2.000

40.000

5,0

  - Nước ngọt

1.438

 

 

  - Biển

537

 

 

2. Rong

Khoảng 680

 

 

  - Nước ngọt

Khoảng 20

 

 

  - Biển

653

 

 

3. Cỏ biển

14

 

 

4. Thực vật ở cạn

Khoảng 13.800

220.000

6,3

  - Thực vật bậc cao

khoảng 11.400

 

 

  - Thực vật bậc thấp (rêu, nấm lớn)

khoảng 2.400

72.000

3,3

5. Thực vật ngập mặn

94

 

 

6. Động vật không xương sống nước ngọt

khoảng 800

 

 

7. Động vật không xương sống biển

khoảng 7.000

 

 

- Động vật nổi

657

 

 

- Động vật đáy

khoảng 6.300

 

 

8. Động vật không xương sống ở đất

khoảng 1.000

30.000

3,0

9. Sán ký sinh

190

 

 

10. Côn trùng

7.750

775.000

1,0

11. Cá

khoảng 3.500

30.000

11,6

   - Cá nước ngọt

khoảng 1.000

 

 

   - Cá biển

khoảng 2.500

 

 

12. Bò sát trên cạn   

296

6.300

4,7

13. Bò sát biển (rắn biển, rùa biển)

21

 

 

14. Lưỡng cư

162

4.184

3,8

15. Chim

840

9.040

9,3

16. Thú trên cạn     

310

4.000

7,7

17.Thú biển

25

 

 

Nguồn: Báo cáo ĐDSH quốc gia 2004, đã có bổ sung

- Sinh vât nước ngọt: đã thống kê và xác định được 1.438 loài vi tảo thuộc 259 chi và 9 ngành; trên 800 loài động vật không xương sống; 1028 loài cá nước ngọt. Trong đó, đáng lưu ý là riêng họ cá chép (Cyprinidae) có 79 loài thuộc 32 giống, 1 phân họ được coi là đặc hữu ở Việt Nam với 1 giống, 40 loài và phân loài mới cho khoa học. Trong thành phần giáp xác và thân mềm, có tới 10 giống với 39 loài tôm, cua, 4 giống với 60 loài trai, ốc lần đầu tiên được mô tả ở Việt Nam. Điều đó thể hiện tính đặc hữu rất cao của động vật thuỷ sinh nước ngọt của Việt Nam. 

- Sinh vật biển: Đến nay, đã phát hiện được trên 11.000 loài sinh vật sống trong vùng biển Việt Nam. Trong đó, có khoảng 6.000 loài động vật đáy; 2.458 loài cá với trên 100 loài cá kinh tế; 653 loài rong biển; 657 loài động vật nổi; 537 loài thực vật nổi; 94 loài thực vật ngập mặn; 225 loài tôm biển; 14 loài cỏ biển; 15 loài rắn biển; 25 loài thú biển; 5 loài rùa biển và 43 loài chim nước. Trong thành phần động vật biển, một số loài thuộc nhóm giáp xác bơi nghiêng (Amphipoda) có kích thước bé được phát hiện là những loài mới cho khoa học và đã được mô tả.

Những dẫn liệu mới về các giống, loài mới cho khoa học và cho Việt Nam, được bổ sung trong những thập kỷ gần đây cho thấy thành phần khu hệ động, thực vật Việt Nam còn chưa được biết hết. Các loài mới được phát hiện đã làm phong phú thêm cho sinh giới của Việt Nam, trong khi một số loài khác, đặc biệt các loài có giá trị kinh tế cao lại có xu hướng giảm số lượng hoặc không rõ tình trạng hiện nay ra sao.

Hộp 1. Một số loài sinh vật mới được phát hiện ở Việt Nam gần đây

Trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, từ các kết quả điều tra cơ bản ở các vùng lãnh thổ khác nhau ở Việt Nam, rất nhiều loài mới được phát hiện và mô tả, trong đó nhiều giống, loài mới cho khoa học. Một số các nhóm sinh vật trước đây chưa được  nghiên cứu, nay đã có những dẫn liệu bước đầu như nhóm giáp xác bơi nghiêng ở biển (Amphipoda) dơi (Chiroptera), kiến (Hymenoptera, Formicidae), ốc ở cạn …

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn, từ 1992 đến năm 1999, các nhà khoa học Việt Nam cùng phối hợp với Quỹ Ðộng vật hoang dã Quốc tế (WWF) đã phát hiện thêm 4 loài thú lớn, 4 loài thú nhỏ cho khoa học, ba loài chim và một số loài bò sát, ếch nhái mới cho khoa học cũng mới được phát hiện và mô tả.

Về thực vật, trong 10 năm (1993-2002) có 13 chi, 222 loài và 30 taxon dưới loài đã được mô tả mới cho khoa học; 2 họ, 19 chi và hơn 70 loài được ghi nhận mới cho cho hệ thực vật Việt Nam. Riêng họ Lan (Orchidaceae) đã công bố 3 chi, 62 loài mới và bổ sung 4 chi, 34 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam. Ngành Hạt trần (Pinophyta) đã công bố 1 chi, 3 loài mới cho khoa học và 2 chi, 12 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam (Jacinto Regalado J. và nnk, 2003).

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, khoảng 60 loài động vật không xương sống, cá nước ngọt và hàng chục loài động vật không xương sống ở đất và côn trùng đã được mô tả mới cho khoa học.

 Điều đó chứng tỏ sự đa dạng về thành phần loài và mức độ đặc hữu khá cao của khu hệ sinh vật nội địa Việt Nam.

Nguồn: Báo cáo quốc gia về đa dạng sinh học, Bộ Tài nguyên & Môi trường (2005), có bổ sung.

3. Ða dạng nguồn gen

Theo đánh giá của Jucovski (1970), Việt Nam là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng của thế giới. Việt Nam với 16 nhóm cây trồng khác nhau,bao gồm trên 800 loài (bảng 2). Ngân hàng gen cây trồng Quốc gia đang bảo tồn 12.207 giống của 115 loài cây trồng. Một bộ phận quan trọng của số giống này là nguồn gen bản địa với nhiều đặc tính quý mà duy nhất chỉ có ở Việt Nam.

Các biểu hiện của kiểu gen (genotype) của cây lúa (Oryza saltiva L) ở Việt Nam rất phong phú, có tới hàng trăm kiểu hình (phenotype) khác nhau thể hiện ở gần 400 giống lúa (Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia-chuyên đề ĐDSH 2005).

Về vật nuôi, hiện nay Việt Nam có 14 loài gia súc và gia cầm đang được chăn nuôi bao gồm 20 giống lợn trong đó có 14 giống nội, 21 giống bò (5 giống nội), 27 giống gà (16 giống nội), 10 giống vịt (5 giống nội), 7 giống ngan (3 giống nội), 5 giống ngỗng (2 giống nội), 5 giống dê (2 giống nội), 3 giống trâu (2 giống nội), 1 giống cừu, 4 giống thỏ (2 giống nội), 3 giống ngựa (2 giống nội), bồ cầu, hươu và nai (có khoảng 10.000 con hươu và nai được nuôi trong toàn quốc).

4. Những khu vực có mức ĐDSH cao

Ở Việt Nam, trên đất liền, các vùng núi đá vôi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ (Tây Nguyên) được xem là những nơi có mức đa dạng sinh học cao của đất nước. Trên vùng biển,  bốn khu vực: Móng Cái-Đồ Sơn, Hải Vân-Đại Lãnh và Đại Lãnh-Vũng Tầu và các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa có mức đa dạng sinh học cao hơn cả. Những khu vực này, bên cạnh có mức ĐDSH cao, đồng thời cũng là những khu vực rất nhạy cảm, dễ bị thương tổn và có nguy cơ bị tác động bởi các yếu tố biến đổi môi trường và của con người.

II. SỰ SUY THOÁI ĐDSH Ở VIỆT NAM

Những nghiên cứu gần đây đã xác định những mối đe doạ chính đồng thời cũng là những nguyên nhân gây suy thoái ĐDSH Việt Nam bao gồm:

1. Khai thác quá mức tài nguyên sinh vật

Nhiều cộng đồng dân cư ở Việt Nam có truyền thống lâu đời về sử dụng tài nguyên thiên nhiên và đời sống vẫn phụ thuộc nhiều vào rừng như thu hái, khai thác thực phẩm, chất đốt và vật liệu xây dựng. Do có sự thay đổi nhanh về kinh tế, xã hội và tăng trưởng dân số ở Việt Nam, nên mô hình tiêu thụ của người dân thành thị cũng đã thay đổi và mạng lưới giao thông đã xâm nhập tới các vùng xa xôi hẻo lánh nhất, làm cho các vùng này trở nên dễ tiếp cận hơn đối với các thị trường bên ngoài. Những thay đổi to lớn đó đã dẫn tới việc khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên tới mức độ nguy hiểm tại nhiều vùng trên cả nước như khai thác trầm, săn bắt động vật quý hiếm, khai thác sâm Ngọc Linh.

Hầu hết các loài thực vật có giá trị kinh tế, trong đó, có nhiều loài được dùng làm thức ăn (như măng, nấm), làm chất đốt, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng hay nguyên liệu làm đồ thủ công mỹ nghệ đều bị khai thác ồ ạt nhằm phục vụ tiêu thụ tại chỗ hoặc trao đổi thương mại.

-  Khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ

Nhằm hạn chế sự suy giảm diện tích và chất lượng rừng tự nhiên, Chính phủ Việt Nam đã ban hành hàng loạt các quy định để kiểm soát khai thác gỗ thương mại. Mặc dù vậy, các hoạt động khai thác gỗ lậu đã và đang diễn ra ngày càng trầm trọng và không thể kiểm soát được đối với tất cả các loại hình rừng, gồm cả rừng đặc dụng. Việc xây dựng các đường vận tải gỗ lại thường tạo điều kiện dễ dàng hơn cho các hoạt động săn bắt động vật và khai thác lâm sản ngoài gỗ, gây áp lực càng lớn đối với các quần thể động, thực vật hoang dã vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự suy thoái và chia cắt sinh cảnh.

- Đánh bắt thủy sản bằng phương pháp không bền vững

Khoảng 1/5 dân số Việt Nam sống dựa vào đánh bắt thủy sản để sinh sống và các hoạt động này cũng đóng góp một phần rất lớn cho nhu cầu thực phẩm của nhân dân và xuất khẩu. Tuy nhiên, việc gia tăng mức độ tiêu thụ, cộng với việc quản lý đánh bắt kém hiệu quả đã dẫn tới việc khai thác thủy sản quá mức ở nhiều vùng làm suy giảm tổng lượng đánh bắt. Nhiều loài hải sản có giá trị cao bị suy giảm nghiêm trọng, như tôm hùm (Panulirus spp.), bào ngư (Haliotes spp.), điệp (Chlamys spp.)... Các kỹ thuật đánh bắt mang tính hủy diệt như dùng chất nổ, chất độc và sốc điện để đánh bắt cá đang lan tràn cả trong nội địa và vùng duyên hải, và được coi là mối đe dọa cao đối với hơn 80% rạn san hô của Việt Nam.

- Săn bắn và buôn bán trái phép động vật hoang dã

Các hoạt động săn bắt diễn ra do nhiều yếu tố quan hệ mắt xích với nhau, gồm cả các nhu cầu sống và giải trí. Về bản chất, nhu cầu tiêu thụ của các thị trường buôn bán động vật hoang dã quốc tế và nội địa lại là nguyên nhân chủ yếu của nạn săn bắt này. Các loài động vật hoang dã bị buôn bán phổ biến là những loài được dùng trong thành phần bào chế các loại thuốc đông y cổ truyền như gấu, khỉ, cầy cáo, rùa, kỳ đà và trăn, rắn; nhiều loài chim cũng bị bắt để bán làm chim cảnh. Theo thống kê, năm 2002, buôn bán động vật hoang dã nội địa và qua Việt Nam lên tới khoảng 3.050 tấn, trị giá khoảng 66 triệu đô la (Nguyễn Văn Song, 2003, trong VEM-2005).

Mặc dù Việt Nam đã xây dựng kế hoạch hành động quốc gia để tăng cường kiểm soát buôn bán động thực vật hoang dã tới năm 2010 với mục tiêu chung là tăng cường kiểm soát nạn buôn bán trái phép, nhưng năng lực của các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ động vật hoang dã còn rất thấp.

2. Chuyển đổi mục đích sử dụng đất một cách thiếu cơ sở khoa học

Việc chuyển đổi đất rừng và các vùng đất ngập nước thành đất canh tác nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản; sự mở rộng đô thị hoá và phát triển cơ sở hạ tầng cũng dẫn đến việc mất hay phá vỡ các hệ sinh thái và các sinh cảnh tự nhiên.

- Mở rộng diện tích sản xuất cây nông nghiệp, công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản

Sự mở rộng đất nông nghiệp là một trong những lý do lớn nhất của việc mất các sinh cảnh tự nhiên ở Việt Nam. Các vùng đất ngập nước ngọt như các trảng cỏ ngập nước theo mùa đang bị đe dọa bởi các hệ thống thủy lợi và sự chuyển đổi thành các ruộng lúa. Ở miền Bắc, rừng đang bị phá hủy do du canh, ở Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ, việc mở rộng thiếu kiểm soát diện tích các loài cây công nghiệp và cây kinh tế là nguyên nhân lớn nhất gây mất rừng trong thập kỷ vừa qua. Diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam đã tăng từ 6,7 triệu ha năm 1990 lên 9,4 triệu ha năm 2002. 

 

                                                    Hộp 3. Vấn đề nuôi tôm trên đát cát
Vùng cát ven biển là kiểu HST đặc thù của các tỉnh Trung Bộ. Hầu hết vùng cát ven biển là vùng hoang hóa với thảm cây bụi chịu hạn, chịu mặn. Theo thống kê, riêng diện tích vùng cát từ Hà Tĩnh đến Ninh Thuận là 85.100 ha. Trong khoảng 5 năm (từ 1999) đến nay, hình thức nuôi tôm trên cát mở đầu từ Ninh Thuận, đã và đang phát triển ở hầu hết các tỉnh có vùng cát ven biển Trung Bộ. Đến 2002, diện tích ao nuôi tôm trên cát từ Hà Tĩnh đến Bình Thuận theo thống kê chưa đầy đủ đã đạt tới 951,42 ha.

Việc chuyển vùng cát sang đầm nuôi tôm sú với năng xuất trung bình ở Ninh Thuận 5,54 tấn/ha/vụ vào những năm đầu đã mang lại lợi nhuận rất lớn, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nhân dân ở vùng đất nghèo khó này, nâng cao đời sống xã hội cho địa phương.

Bên cạnh lợi ích kinh tế-xã hội, dưới góc độ sinh thái-môi trường và phát triển bền vững thì phát triển nghề nuôi tôm trên vùng đất cát chưa tính đến một cách đầy đủ những thiệt hại lâu dài như: mất diện tích rừng phòng hộ, các đầm nuôi tôm thâm canh, công nghiệp với lượng nước thải lớn hầu như không được xử lý gây ô nhiễm môi trường tiếp nhận nước thải đồng thời gây bệnh dịch tôm hàng loạt. Trong điều kiện hiện nay, ở hầu hết các tỉnh Trung Bộ, lượng nước ngọt cung cấp cho việc nuôi tôm trên cát chủ yếu được khai thác từ nước ngầm. Vậy, nếu không cân đối diện tích nuôi tôm trên cát với trữ lượng nước ngầm thì việc khai thác lạm dụng nguồn nước ngầm sẽ phải xảy ra. Điều đó dẫn đến tình trạng sụt lún địa tầng, tăng xâm nhập mặn nguồn nước ngầm, gây ảnh hưởng đến môi trường chung. Mặt khác, việc tăng diện tích nuôi tôm trên cát dẫn tới giảm diện tích rừng phi lao phòng hộ, góp phần làm tăng nhanh tốc độ lấn cát sâu vào đất liền. Nếu xem xét về bản chất thì sự chuyển đổi HST vùng cát đã dẫn tới sự xung đột về mục tiêu sử dụng chức năng của cùng một HST giữa các các ngành kinh tế Nông, Lâm và Ngư nghiệp.

 - Phát triển cơ sở hạ tầng

Việc xây dựng các công trình đập hồ chứa nước, đường, điện và các cơ sở hạ tầng khác đã trực tiếp gây ra sự suy thoái, chia cắt, hình thành rào cản sự di cư, và làm mất các sinh cảnh tự nhiên, gây nên những tác hại nghiêm trọng và lâu dài tới sự sống còn của các quần thể động vật hoang dã. Ngoài ra, việc phát triển cơ sở hạ tầng còn làm tăng dân số cơ học tạo ra tác động gián tiếp đến suy thoái ĐDSH.

Hiện nay, Việt Nam có hàng nghìn công trình hồ chứa, đập, trạm bơm tiêu, các kè, đập..., nhằm đáp ứng cho các mục tiêu khác nhau như tưới, thuỷ điện, cấp nước sinh hoạt, phòng chống lũ, cấp nước công nghiệp, vui chơi giải trí. Tác động của việc xây đập, hồ chứa tới vùng sông hạ lưu sau đập là rất lớn: (i) Làm thay đổi các kiểu nơi cư trú như vực sông-suối, ghềnh, bãi cát chắn trên sông, đồng bằng ngập lụt ven sông, lòng sông. Bởi vậy làm thay đổi cấu trúc thành phần loài thuỷ sinh; (ii) Nhịp sống của thuỷ sinh vật như thời kỳ sinh sản, sinh trưởng, kiếm mồi và các phản ứng khác với môi trường sống bị thay đổi.  (iii) Nhiều loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài có tập tính di cư dài, có tính di chuyển kết nối theo chiều dọc sông bị ảnh hưởng và (iv) Thay đổi dòng chảy tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ngoại lai xâm nhập vào hệ sinh thái sông.

3. Sự du nhập các giống mới và các loài sinh vật ngoại lai

Sự du nhập các giống mới, đặc biệt các giống lai có năng suất cao đã làm suy giảm cả về diện tích lẫn nguồn gen của các giống cây trồng bản địa. Hoạt động này đã làm nghèo nguồn gen cây trồng bản địa và gây nên những tổn thất nguồn gen rất đáng tiếc trong nông nghiệp. Ví dụ điển hình là chỉ riêng trong 2 năm 1998-1999, huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Lắk đã mất đi 15 giống lúa bản địa (bao gồm 6 giống lúa nếp và 9 giống lúa tẻ) trong tổng số 73 giống lúa của cả huyện.

  Hộp 4. Tác động của cây Mai Dương (Mimosa pigra) lên tính đa dạng sinh học của VQG Tràm Chim, tỉnh Đồng Tháp.

Cây Mai dương lần đầu được ghi nhận ở Vuờn quốc gia Tràm Chim trong những năm 1984- Cây Mai dương lần đầu được ghi nhận ở Vuờn quốc gia Tràm Chim trong những năm 1984-1985. Đến tháng 5 năm 2000, diện tích bị xâm lấn đã lên đến 490 ha, và tăng đến 1.846 ha vào tháng 5 năm 2002 (Trần Triết et al. 2004) chủ yếu tại các  vùng đồng có ngập nước theo mùa. Mối đe dọa lớn nhất mà cây Mai Dương gây ra cho các vùng đất ngập nước ở Vườn Quốc gia Tràm Chim là khả năng xâm lấn nhanh và chiếm lĩnh thay thế dần các thảm thực vật tự nhiên, gây ra tác động tiêu cực đến các quần thể động vật tại chỗ, đáng chú ý nhất đối với khu hệ chim. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra hậu quả là số lượng Sếu đầu đỏ, loài chim bị đe dọa toàn cầu ở Tràm Chim giảm mạnh từ 600 – 800 cá thể vào giữa những năm 1990 đến nay chỉ còn ít hơn 100 cá thể vào năm 2003 (Trần Triết và Nguyễn Phúc Bảo Hòa, 2002, 2003).

 Khoảng 20 năm gần đây, nhiều loài ngoại lai như Ốc bươu vàng (Pomacea caniculata), Chuột hải ly (Myocastor coypus), Mọt cứng đốt (Trogoderma granarium), cây Mai dương (Mimosa pigra) đã gây nhiều tác hại nghiêm trọng và tạo nên sự chú ý của đông đảo quần chúng, các nhà khoa học và các nhà quản lý. Sự phát triển quá mức và khó kiểm soát của các loài này đã gây những hậu quả xấu đối với môi trường và đa dạng sinh học như lấn át, loại trừ và làm suy giảm các loài sinh vật và nguồn gen, phá vỡ cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, phá hại mùa màng, làm giảm năng suất cây trồng, vật nuôi, thậm chí ảnh hưởng cả đến sức khoẻ con người.

Bộ Thuỷ sản (2005) đã công bố danh sách 41 loài động vật thuỷ sinh lạ xâm nhập (33 loài cá, 8 loài động vật khác với các bậc xếp hạng: Trắng - 9 loài (loài lạ không có tác động xấu tới ĐDSH ở nước và nghề nuôi trồng thuỷ sản truyền thống; Xám -18 loài (loài lạ chưa rõ có hay không có tác động xấu đến ĐDSH ở nước và nghề nuôi trồng thuỷ sản truyền thống nhưng cần phải tiếp tục theo dõi); Đen - 14 loài (loài lạ có tác động xấu tới ĐDSH  ở nước và nghề nuôi trồng thuỷ sản truyền thống. Cần quản lý chặt chẽ ở các cơ sở nuôi và tiêu diệt ở các vực nước tự nhiên).

4. Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu

- Ô nhiễm môi trường

Hiện nay, chất lượng môi trường nói chung đã xuống cấp. Nhiều thành phần môi trường bị suy thoái, tình trạng ô nhiễm do các chất thải khác nhau không được xử lý đổ ra môi trường bên ngoài là nguyên nhân đe dọa tới đa dạng sinh học: gây chết, làm giảm số lượng cá thể, gián tiếp làm hủy hoại nơi cư trú và môi trường sống của các loài sinh vật hoang dã.

Thuốc trừ sâu được sử dụng ngày càng phổ biến ở Việt Nam đã góp phần làm suy thoái các quần thể chim ở các vùng nông thôn và ngoại ô thành phố, do chúng đã tiêu diệt các hệ động vật không xương sống là các mắt xích ở bậc thấp trong chuỗi thức ăn của các loài chim. Các hệ sinh thái nước ngọt, duyên hải và biển cũng đang bị đe dọa bởi nạn ô nhiễm từ nhiều nguồn, bao gồm nước thải chưa được xử lý, hệ thống thoát nước nông nghiệp và các dòng thải công nghiệp.

   Hộp 5. Ảnh hưởng ô nhiễm môi trường ở vịnh Hạ Long - Bái Tử Long

Các kết quả điều tra tổng lượng nước thải công nghiệp các tỉnh ven biển phía bắc của Phân Viện Hải dương học Hải Phòng (Lưu Văn Diệu và nnk., 2000) cho thấy Quảng Ninh là tỉnh có lượng nước thải công nghiệp lớn nhất (21,219 triệu m³/năm). Trong đó, có các chất thải là kim loại nặng với tổng lượng như Cu là 1,55 tấn/năm, Pb- 0,51 tấn/năm, Zn-32,8, Hg- 0,03 tấn/năm, As- 0,23 tấn/năm, Cd- 0,05 tấn/năm. Các nguồn thải tại chỗ cùng với lượng thải từ sông sẽ góp phần làm gia tăng hàm lượng các chất gây độc như kim loại nặng trong khối nước biển và trầm tích ven bờ.

Khi phân tích mô của 4 loài thân mềm mảnh hai vỏ ở khu vực Vịnh Hạ Long: ngao (Meretrix meretrix), ngán (Donsinia gibba), ngó (Cyclina sinensis) và sò huyết (Anadara (Arca) gramosa), nhóm tác giả trên đã xác định hàm lượng Pb dao động 2,5 - 34,5 mg/g khô và Zn dao động 52,5 - 195,5 mg/g khô, vượt quá giới hạn (tiêu chuẩn) cho phép đối với thực phẩm biển của một số nước. Riêng với Ngao, hàm lượng Hg trong mô cũng vượt quá giới hạn cho phép. Như vậy, các loài thân mềm hai mảnh vỏ trên đều có khả năng tích lũy sinh học cao các kim loại nặng trong cơ thể.

Ven bờ Vịnh hạ Long - Bái Tử Long là khu công nghiệp khai thác than lớn nhất Việt Nam. Các khảo sát về trầm tích vụn than ở Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long của Nguyễn Chu Hồi và nnk. (1999) cho thấy hạt vụn than có ở hầu hết các loại trầm tích với các mức hàm lượng khác nhau. Hạt vụn than cao nhất thường ở vùng nước Cửa Ông, vịnh Cửa Lục. Đây cũng là các nơi gần nguồn phát thải chúng như hệ sông Diễn Vọng và cửa sông Hòn Gai đổ vào trung tâm Vịnh Hạ Long. Sông, suối phía Bắc Cửa Ông và cảng than Cẩm Phả, Cửa Ông và bãi thải ven Cẩm Phả đổ vào vịnh Bái Tử Long.

- Sa mạc hóa đất đai

Việc diện tích các rừng có chất lượng bị thu hẹp do sự khai thác, phá hủy là một nguyên nhân cơ bản cùng với một số tác động khác dẫn tới tác động tiêu cực các dòng chảy môi trường (Environmental flows) của những dòng sông nhằm duy trì các HST vùng hạ lưu vùng duyên hải Trung Bộ. Một điều thấy rõ nhất là sự sa mạc hóa đang diễn ra ở một số vùng. Theo ước tính có khoảng 3 triệu ha đất đai bị thoái hóa khô hạn và sa mạc hóa, trong đó đán kể là vùng ven biển Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Đông Bắc, Tây Bắc (nguyễn Tử Xiêm, Thái Phiên, 1999; Nguyễn Văn Cư, 2002; Lê Thái Bạt, 2003) đang diễn ra với các mức độ khác nhau như  thiếu nước, mất khả năng giữ nước, thảm thực vật che phủ bị thu hẹp, tất cả đã dẫn tới sự suy thoái nhanh và khó hồi phục các quần xã sinh vật ở đây.

- Cháy rừng

Do điều kiện khí hậu của Việt Nam, có mùa khô hạn kéo dài nên khả năng bị cháy rừng vào mùa khô hàng năm là rất lớn. Trung bình mỗi năm có 25.000-100.000 ha rừng bị cháy ở Việt Nam, nhất là ở vùng cao nguyên Trung Bộ, rừng tràm Nam Bộ. Theo các thống kê, kể từ năm 1995 trở lại đây, cháy rừng đã được giảm nhiều so với thời gian trước dó. Riêng năm 2002 đã xảy ra 1.098 vụ cháy, năm 2003 xảy ra 642 vụ cháy. Số lượng vụ cháy rừng giảm nhưng mức độ trầm trọng của cháy rừng lại cao hơn như vụ cháy rừng tràm U Minh trong các năm 2002,2003.

Sự kiện cháy rừng vào tháng 3, 4 năm 2002 tại vườn Quốc gia U Minh Thượng là một tai hoạ đối với tài nguyên sinh vật và đa dạng sinh học. Vườn Quốc gia U Minh Thượng là vùng rừng tự nhiên trên đất ngập nước có nền đất than bùn. Rừng U Minh Thượng bị cháy khoảng 4.000 ha, rừng U Minh Hạ bị cháy khoảng 300 ha. Tại U Minh Thượng, trước khi bị cháy rừng đã thống kê được 32 loài thú. Sau khi bị cháy, ít nhất có 25 loài thú (78,2%) bị ảnh hưởng với các mức độ khác nhau. Một số loài có nguy cơ không gặp lại ở hệ sinh thái độc đáo này: Dơi ngựa lớn Pteropus vampirus; Sóc lửa Callosciurus finlaysoni; Rái cá lông mũi Lutra sumatrana; Rái cá vuốt bé Aonyx cirerea; Mèo cá Prrionailurus viverinus; Tê tê Manis javanica; Cầy giông đốm lớn Viverra megaspila; Cầy vòi hương Paradoxurus hermaphroctulus; Dơi ngựa Thái lan Pteropus lylei; Mèo rừng Prionailurus bengalensis.

- Biến đổi khí hậu

Việt Nam là nước đặc biệt nhạy cảm với các tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu và là 1 trong 10 nước chịu ảnh hưởng nghiêm trọng và đầu tiên của biến đổi khí hậu. Các hệ sinh thái bị chia cắt (điều đã trở nên phổ biến ở Việt Nam) chắc chắn sẽ phản ứng kém cỏi hơn trước những sự thay đổi này và có thể sẽ không tránh khỏi sự mất mát các loài sinh vật với tốc độ rất cao. Các vùng đồng bằng châu thổ Nam Bộ và Bắc Bộ được dự báo là những vùng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của biến đổi khi hậu.

Nhiệt độ trung bình tăng sẽ làm thay đổi vùng phân bố và cấu trúc quần thể sinh vật của nhiều hệ sinh thái. Các nhà khoa học đã chứng minh được sự di cư của một số loài do sự ấm lên của trái đất, nhiều loài cây trên dãy Hoàng Liên Sơn đang phải chuyển dịch lên cao hơn để tồn tại. Nhiệt độ tăng còn làm gia tăng khả năng cháy rừng, nhất là các khu rừng trên đất than bùn vừa gây thiệt hại tài nguyên sinh vật, vừa gia tăng lượng phát thải khí nhà kính làm gia tăng biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu cùng với sự suy giảm diện tích rừng đầu nguồn, sử dụng tài nguyên nước không hợp lý dẫn tới hiện trượng lũ lụt, lũ quét, sạt lở đất… xảy ra ngày càng nhiều, hậu quả ngày càng nghiêm trọng đối với đời sống con người và môi trường.

5. Sức ép từ gia tăng dân số

Trong khoảng thời gian từ năm 1979 đến năm 2004, dân số Việt Nam đã tăng gấp rưỡi từ 52,7 triệu người lên tới 81,6 triệu người. Theo dự báo, dân số của Việt Nam có thể tăng lên tới gần 122 triệu người vào năm 2050. Hiện nay, Việt Nam là nước có mật độ dân số cao, vào khoảng 240 người/km2. Mặt khác, xu thế biến động dân số còn liên quan tới hiện tượng di cư trong nội vi đất nước. Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ là nơi có số lượng người di cư tới nhiều nhất. Trong khoảng thời gian 1990-1995, dân số của tỉnh Đắc Lăk đã tăng 21%, chủ yếu là người nhập cư. 

Kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, cho nên dân số tăng cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó, tài nguyên sinh vật giữ vị trí hàng đầu, ngày càng được sử dụng nhiều hơn. Đối với sự tiêu thụ tài nguyên, sức ép lớn nhất là nhu cầu sử dụng đất để canh tác nông nghiệp, chăn nuôi ngày càng tăng, dẫn đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất ồ ạt, gây tác động lớn đến các hệ sinh thái trong thiên nhiên. Do đó, tài nguyên sinh vật ngày càng cạn kiệt, số lượng các loài ngày càng ít đi, khối lượng các quần thể sinh vật ngày càng suy giảm, nguồn gen ngày càng nghèo nàn.

6. Mức tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên ngày càng nhiều

Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới mạnh mẽ trên mọi khía cạnh kinh tế, xã hội và dân số. Trải qua một thập kỷ cải cách kinh tế, GDP hàng năm của Việt Nam đã tăng trung bình 7%, cao thứ hai ở Châu Á. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã tạo nên những tác động tổng hợp đối với ĐDSH của Việt Nam, trong đó có vấn đề làm gia tăng nhu cầu sử dụng và chuyển đổi tài nguyên thiên nhiên với một tốc độ chưa từng có trước đây.

Bảng 3. Dự báo nhu cầu đối với một số sản phẩm gỗ chính 

Loại sản phẩm

Đơn vị

2005

2010

2015

2020

Gỗ xẻ

1000 m3

2570

3589

5009

6991

Ván sợi (MDF)

1000 m3

46,6

65

90,7

126,5

Ván dăm

1000 m3

94,4

136,2

196,7

284,2

Gỗ dán lạng

1000 m3

12,9

18,4

26,1

37,2

Gỗ trụ mỏ

1000 m3

90

120

160

200

Giấy và bìa

1000 tấn

1232

2177

3478

5361

Nguồn: Tổ tư vấn xây dựng Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2000-2020, Bộ NN&PTNT, 2005

Nhu cầu của thị trường đối với các tài nguyên sinh vật (động, thực vật hoang dã, gỗ và các sản phẩm phi gỗ) là yếu tổ chính làm gia tăng sức ép đối với nguồn tài nguyên này. Trong những năm qua, việc kiểm soát buôn bán động, thực vật hoang dã có tác dụng hạn chế tình trạng khai thác, săn bắt buôn bán động, thực vật hoang dã bất hợp pháp. Tuy vậy, do tác động của quy luật kinh tế thị trường, nên đã có những thời kỳ tệ nạn này đã phát triển mạnh, lan rộng.

III. DIỄN BIẾN ĐDSH CỦA VIỆT NAM

1. Các xu hướng biến động của đa dạng sinh học Việt Nam

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, ĐDSH của Việt Nam đã có những biến đổi quan trọng. Trong thời gian qua, công tác bảo tồn ĐDSH đã thu được nhiều kết quả mang tính tích cực, rất có ý nghĩa. Tuy vậy, còn rất nhiều vấn đề còn tồn tại, tác động tiêu cực tới ĐDSH.

1.1. Độ che phủ của rừng liên tục tăng

Các hệ sinh thái rừng - độ che phủ rừng tăng lên nhưng chất lượng rừng đang suy giảm Cách  đây một thế kỷ, Việt Nam còn rất nhiều rừng giàu chất lượng cao, che phủ gần như cả nước. Năm 1943,  độ che phủ rừng giảm xuống chỉ còn 14,3 triệu hecta, hoặc 43% diện tích lãnh thổ. Kể từ đó, rừng không ngừng suy giảm với một tốc  độ nhanh chóng,  đặc biệt là trong những năm chiến tranh và giai  đoạn 1976 – 1985. Chính phủ  ước tính tới năm 1990, độ che phủ rừng đã giảm xuống còn 10,88 triệu hecta, hoặc 28,2 %. Từ năm 1993, nhờ có nhiều chính sách đúng đắn với sự nỗ lực của toàn dân, việc thực hiện các chương trình quốc gia lớn như 327, 556 và 661 đã ngăn chặn nạn suy thoái và phục hồi dần diện tích rừng. Tính đến năm 2006, tổng diện tích rừng đã tăng mạnh, độ phủ rừng đạt 38,2%, tăng 10% so với mức năm 1990. Cơ cấu rừng đã hợp lý hơn trước (2 triệu ha rừng đặc dụng, 5 triệu ha rừng phòng hộ và 8 triệu ha rừng sản xuất).

Nhờ sự phát triển của rừng, ĐDSH một số vùng bắt đầu phục hồi. Trong cơ cấu rừng trồng tỷ lệ các loài cây bản địa đã được tăng lên. Nhiều loài cây có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên, nhưng đã phát triển mạnh thông qua các chương trình trồng rừng như lát hoa (Chukrasia tabularis), trầm dó (Aquilaria crassna), sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis).

Bảng 4. Biến động diện tích và độ che phủ của rừng Việt Nam (giai đoạn 1990 - 5/2005)

 

Năm

 

Diện tích rừng (1000 ha)

Độ che phủ

(%)

Ha/đầu người

Rừng tự nhiên

Rừng trồng

Tổng cộng

1990

8.430

745

9.175

27,8

0,14

1995

8.252

1.050

9.302

28,2

0,12

2000

9.444,2

1.491

10.915

33,2

0,14

2002

9.865

1. 919,6

11.785

35,8

0,14

2003

10.005

2.090

12.095

36,1

0,14

2004

10.088.3

2.218,6

12.306,9

36,7

0,15

2006

10.177,7

2.486,2

12.663,9

38,2

0,15

Nguồn: tổng hợp từ Cục Kiểm lâm, 2004;  State of World's Forest, FAO, ROME, 2001. Báo cáo môi trường quốc gia, 2007.

1.2. Các hệ sinh thái tự nhiên bị tác động                                                                                                                                                                                                                             

- Diện tích rừng tự nhiên có tính ĐDSH cao đang bị thu hẹp

Tuy diện tích và độ che phủ rừng đang tăng dần nhưng chủ yếu là rừng trồng, còn diện tích rừng tự nhiên có tính ĐDSH cao đã giảm mạnh so với trước đây. Hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo, rừng trồng hoặc rừng  đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu và rừng kín chỉ chiếm 3,4% (năm 2000) và 4,6% (năm 2004) tổng diện tích rừng. Rừng nguyên sinh chỉ còn khoảng 0,57 triệu ha phân bố rải rác ở một số khu vực như Tây Nguyên, Tây Bắc. Rất ít cơ hội phục hồi hoàn toàn loại rừng giàu vì các khu rừng này đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ. Theo thống kê, 62% tổng diện tích rừng ngập mặn trên toàn quốc hiện nay là rừng mới trồng, thuần loại, chất lượng rừng kém cả về kích cỡ, chiều cao cây và đa dạng thành phần loài. Những cánh rừng ngập mặn nguyên sinh hầu như không còn.

Những vùng có nhiều rừng nhất, đồng thời cũng là những vùng rừng giàu trữ lượng và có chất lượng cao nhất ở Việt Nam như Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Nam Bộ vẫn tiếp tục suy giảm, cấu trúc và cơ cấu rừng bị phá vỡ. Các vùng rừng bị chia cắt và bị tác động mạnh là mối đe dọa lớn đối với các cấu thành đa dạng sinh học của rừng bao gồm cả các loài động vật phụ thuộc vào rừng, và là nguyên nhân chính làm suy giảm dịch vụ sinh thái và hàng hoá mà hệ sinh thái rừng cung cấp.

Sự suy thoái này thể hiện rõ nét nhất qua sự suy giảm nhanh chóng về diện tích và chất lượng các khu rừng ngập mặn. Tổng diện tích rừng ngập mặn của cả nước hiện chỉ còn khoảng 155.290 ha, giảm 100.000 ha so với trước năm 1990 và vẫn tiếp tục giảm nhanh. Các số liệu thống kê cho thấy, tốc độ mất rừng ngập mặn ở nước ta là rất cao, khoảng 4.400ha/năm. Năm 1943 nước ta có hơn 408.500 ha rừng ngập mặn đến 12/2005 diện tích rừng ngập mặn cả nước chỉ còn hơn 155.000 ha chủ yếu là rừng mới trồng. Mất rừng ngập mặn gây ra ra tổn thất nghiêm trọng về đa dạng sinh học, đặc biệt là mất bãi đẻ của các loài thủy sản, mắt nơi cư trú và làm tổ của các loài chim, làm mất chức năng chống phèn hóa, ngăn ngừa xói lở, hạn chế ô nhiễm và tác hại của gió bão của hệ thống rừng ngập mặn  vùng cửa sông, ven biển.

- Hệ sinh thái nước ngọt nội địa bị suy thoái

Các hệ sinh thái sông, hồ, đầm phá cũng đang bị khai thác quá mức, bị đe dọa nặng nề do các dự án phát triển hạ tầng lớn như ngăn đập phục vụ nhu cầu thủy lợi và thủy điện. Điều đó dẫn đến mất môi trường sống của nhiều loài thủy sinh và làm suy giảm chức năng sinh thái của đầm phá. Các vùng đầm phá bị thay đổi dẫn đến mất chức năng điều tiết nước đã gây nhiễm mặn các con sông làm ảnh hưởng tới đời sống của người dân.

- Hệ sinh thái biển bị suy thoái nghiêm trọng

Hầu hết các hệ sinh thái biển của Việt Nam đều đang bị suy thoái một cách nghiêm trọng do bị khai thác quá mức, bị đe dọa nặng nề bởi ô nhiễm chất thải, lắng đọng trầm tích và ô nhiễm dầu tràn. Môi trường biển bị ô nhiễm nặng bởi chất thải từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, và chất thải sinh hoạt. Chất lượng trầm tích đáy biển, nơi cư trú của nhiều loài sinh vật đáy, bị ô nhiễm quá mức theo quy định của hầu hết các chuẩn quốc tế.

 Hộp 7. Rừng nguyên sinh chất lượng tốt suy giảm

Năm 1943, diện tích rừng của Việt Nam là 14,3 triệu ha với tỷ lệ che phủ là 43%. Điều đáng chú ý là rừng trong thời kỳ này là rừng nguyên sinh tự nhiên, chất lượng tốt. Đến những năm 1990-1995, diện tích rừng suy giảm rất mạnh, chỉ còn trên 9 triệu ha, tỷ lệ che phủ chỉ còn 27-28%. Độ che phủ của rừng trên các vùng lưu vực sông chính giảm: Lưu vực sông Đà chỉ còn dưới 11%, lưu vực sông Hồng 23%, lưu vực sông Chảy-sông Lô-sông Gâm 27%, lưu vực sông Sê San 31%, lưu vực sông Sê Rê Pôc 29%, lưu vực sông Đồng Nai 25%. Vùng lưu vực sông Cả, diện tích rừng che phủ còn tương đối khả quan, chiếm 39%. Trong khi đó, độ che phủ rừng ở vùng lưu vực sông Ba cách đây 5 năm là 37% thì nay chỉ còn không quá 23%.

Trong những năm gần đây, do có kế hoạch trồng mới  nên độ che phủ của rừng tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, diện tích rừng nguyên sinh tự nhiên có chất lượng  cao vẫn có xu hướng suy giảm do khai thác trái phép. Ngoài ra, việc xây dựng cơ sở hạ tầng ở các vùng rừng núi, nơi có tính ĐDSH cao đã làm chia cắt hoặc cách ly các khu cư trú của động vật hoang dã thành những mảnh nhỏ, manh mún làm cho quần xã động vật có nguy cơ bị tiêu diệt cao.

Nguồn: Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện BAP 2005, có bổ sung.

Với khoảng 200 điểm rạn san hô được khảo sát trong vòng 10 năm trở lại đây, cho thấy chỉ có 1% số rạn có độ phủ cao (độ che phủ >75%), trong khi 31% số rạn có độ phủ thấp (độ phủ < 25%), số rạn có độ phủ trung bình và khá là trên diện 41% và 26% (Báo cáo hiện trạng môi trường, 2005). Các rạn san hô nằm ở ngoài khơi hoặc xa các khu có dân cư sinh sống có thể vẫn còn ở trong điều kiện tương đối  tốt. Độ che phủ của san hô sống ở những rạn tại những khu vực phân bố chủ yếu trong vùng biển của Việt Nam đã và đang suy giảm. Ở một số nơi, độ che phủ của san hô đã giảm 30%. Xu hướng chung là sự suy thoái san hô sẽ diễn ra trên quy mô  lớn. 

Tương tự, các thảm cỏ biến và sinh cảnh biển khác cũng đang bị suy giảm, đe dọa sinh kế của các cộng  đồng phụ thuộc vào các tài nguyên này. Hậu quả của việc các rạn san hô bị suy thoái và khai thác quá mức là sự  đa dạng, cũng như trữ lượng của các loài kinh tế và sinh vật cảnh đã suy giảm, như Tôm hùm (Panulirus sp.), Hải sâm,  (Holothuria scabra), Ốc tù và (Hemafusus colosseus), Bào ngư (Haliotes  spp.),  Điệp (Chalamys  spp.), Mực (Loligo spp.), Trai tai tượng  (Tridacna maxima).

Bảng 5. Sự suy giảm về độ phủ san hô sống trên rạn ở một số khu vực chủ yếu vùng biển ven bờ Việt Nam 

STT

Vùng nghiên cứu

Số điểm

Phần trăm độ phủ san hô bị suy giảm (%)

Khoảng cách thời gian

1

Hạ Long–Cát Bà

-

-7.1

1993 - 1998

2

Cù Lao Chàm

5

-1.9

1994 - 2002

3

Vịnh Nha Trang

8

-21.2

1994 - 2002

4

Côn Đảo

8

-32.3

1994 - 2002

5

Phú Quốc

5

-3.3

1994 - 2002

Chất lượng môi trường biển suy giảm làm môi trường sống của hầu hết các loài sinh vật biển bị phá hủy, gây nhiều tổn thất về đa dạng sinh học: nhiều loài sinh vật biển giảm số lượng, thậm chí có loài có thể đã tuyệt chủng cục bộ. Theo thống kê, có đến 236 loài thủy sinh quý hiếm bị đe dọa ở các cấp độ khác nhau, trong đó có hơn 70 loài sinh vật biển đã được liệt kê trong Sách Đỏ Việt Nam. Nhiều loài trong số này hiện vẫn đang là đối tượng bị khai thác bằng mọi hình thức. 

1.3. Số lượng loài động, thực vật bị đe dọa tăng lên 

Theo Sách Đỏ Việt Nam 2007, tổng số các loại động-thực vật hoang dã trong thiên nhiên đang bị de dọa hiện nay là 882 loài (418 loài động vật và 464 loại thực vật), tăng 161 loài so với thời điểm năm 1992. Trong Sách Đỏ Việt Nam, phần động vật (1992), mức độ bị đe dọa của các loài chỉ mới dừng lại ở hạng “nguy cấp”, thì đến thời điểm này đã có tới 9 loài động vật được xem đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên tại Việt Nam, cụ thể là: Tê giác 2 sừng (Dicerorhynus sumatrensis), Bò xám (Bos sauveli), Heo vòi (Tapirus indicus), Cầy rái cá (Cynogale lowei), cá Chép gốc (Procypris merus), cá Chình Nhật (Angilla japonica), cá Lợ thân thấp(Cyprinus multitaeniata), Hươu sao (Cervus nippon), cá Sấu hoa cà (Crocodylus porosus). Trong hệ thực vật, loài Lan hài Việt Nam đã tuyệt chủng ngoài thiên nhiên. Số lượng các loài thuỷ sinh vật, đặc biệt các loài tôm, cá có giá trị kinh tế bị giảm sút nhanh chóng. Số lượng cá thể các loài cá nước ngọt quý hiếm, có giá trị kinh tế, các loài có tập tính di cư bị giảm sút.

Bảng 6. Số loài thực vật, động vật và bậc phân hạng trong Sách đỏ Việt Nam (2007)

Lớp/phân hạng

EX

EW

CR

EN

VU

LR

DD

Thực vật

1

 

37

178

210

4

 

Ngành Mộc lan

 

 

 

 

 

 

 

- Lớp 2 lá mầm

 

 

29

96

147

 

 

- Lớp 1 lá mầm

1

 

4

69

34

3

 

Ngành Thông

 

 

4

4

18

1

 

Ngành Dương xỉ

 

 

 

1

1

 

 

Ngành Thông đất

 

 

 

 

1

 

 

Ngành Rong đỏ

 

 

 

5

2

 

 

Ngành Rong nâu

 

 

 

 

4

 

 

Ngành Nấm

 

 

 

3

3

 

 

Động vật

4

5

48

113

189

17

30

Thú

4

1

12

30

30

5

8

Chim

 

 

11

17

25

11

9

Bò sát -Ếch nhái

 

1

11

22

19

 

 

 

3

4

28

51

 

3

Động Vật KXS

 

 

10

16

64

1

10

Ghi chú: EX: Tuyệt chủng; EW: Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên; CR: Rất nguy cấp; EN: Nguy cấp; VU: Sẽ nguy cấp; LR: ít nguy cấp; DD: Thiếu dẫn liệu.

Một số loài đang được cứu thoát khỏi nguy cơ bị tuyệt chủng  Đã có những sáng kiến bảo tồn để giúp đảo ngược xu hướng tuyệt chủng của một số loài. Nhiều can thiệp trong bảo tồn đã thành công trong việc xóa bỏ sự suy giảm loài ở một số nơi nhất định. Năm 1995, một khu bảo tồn ở Xuân Thủy, thuộc đồng bằng Sông Hồng, đã được thành lập. Đây là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam. Do nạn săn bắn  đã  được kiểm soát, quần thể cò mỏ thìa trú  đông (Platalea minor)    đây  đã được ổn định với 60 cá thể. Cho dù có các nỗ lực bảo tồn rất lớn, quần thể của loài Tê giác một sừng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên không thấy có dấu hiệu sinh sản từ khi nó được phát hiện vào năm 1989.  

Sự tồn tại của nhiều loài động vật hoang dã vẫn bị đe doạ khi chỉ còn những quần thể nhỏ bé, bị chia cắt mạnh và khó có thể tồn tại lâu dài. Ba trong số bốn loài linh trưởng đặc hữu của Việt Nam có quần thể còn dưới 500 cá thể, trong khi tại Việt Nam một trong hai quần thể cuối cùng còn lại trên thế giới của loài Tê giác một sừng (Rhinoceros sondaicus) chỉ còn từ 6-7 cá thể. Nếu xu hướng tiếp diễn như hiện nay, thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 có thể sẽ phải chứng kiến một làn sóng tuyệt chủng của một số loài động, thực vật hoang dã của Việt Nam, ở một mức độ chưa từng thấy trong lịch sử, kèm theo các thiệt hại về môi trường và kinh tế.

Các giống bản địa đang bị mất đi do sự du nhập các giống mới.  Sự du nhập các giống cây trồng mới, đặc biệt là các giống lai năng suất cao đã làm suy giảm cả về diện tích lẫn nguồn gen của các giống cây trồng bản  địa (Bảng 2.4). Hơn 80% các giống cây trồng bản địa đã bị mất đi trên đồng ruộng sau những phong trào hiện đại hóa. Các vật nuôi đang bị mất đi với tốc độ 10%/năm. Thay cho các giống bản địa trước đây, người nông dân  được cung cấp một lượng hạn chế các giống cây trống có sản lượng cao, do các công ty giống và các cơ sở công nghệ sinh học cung cấp. Những mất mát đó rất nghiêm trọng, vì các giống lúa bản  địa thường có tính  đa dạng di truyền cao hơn các giống ngoại nhập,

và vì vậy có khả năng chống chịu cao hơn đối với các loại sâu hại và bệnh tật, và là nguồn quý để tạo các giống mới và cải tiến.

2. Biến đổi môi trường tác động tới ĐDSH

Diễn biến môi trường Việt Nam trong các năm gần đây rất phức tạp. Tình trạng xả thải các nguồn nước thải, chất thải rắn chưa được xử lý ra môi trường tự nhiên vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Những sự kiện nóng về môi trường gần đây có thể kể như vụ xả nước thải của công ty VeDan ra sông Thị Vải (Đồng Nai) nhiều năm nay, vụ loài cá cọ bể (loài có khả năng chịu môi trường nước bẩn) bị chết hàng loạt ở sông Nhuệ (Hà Nội) bởi nhiều nguồn nước thải từ các cơ sở sản xuất trên vùng lưu vực đổ vào sông Nhuệ làm môi trường nước ở đây quá ô nhiễm.

Như đã trình bày ở trên, việc xây dựng các cơ sở hạ tầng, đặc biệt xây đập và hồ thuỷ điện, chủ yếu ở các sông vùng rừng núi, một mặt làm mất rừng, mặt khác quan trọng hơn là gây tác động tới môi trường sống ở vùng nước hạ lưu sau đập, thậm chí ra tới vùng cửa sông ven biển. Hầu hết các công trình đập-hồ chứa của Việt Nam đều không có hệ thống cầu vượt hỗ trợ các loài cá di cư sông-biển, biển-sông đẻ trứng như cá Mòi, cá Cháy, các loài cá Chình hoặc các loài cá di cư dọc sông khác. Chế độ vận hành không hợp lý của các công trình này đã không bảo đảm đủ lượng dòng chảy môi trường cho dòng sông sau đập, tác động tới môi trường sống của sinh vật cũng như cho con người ở vùng hạ lưu.   

3. Biến đổi khí hậu toàn cầu tác động tới ĐDSH

Theo các nghiên cứu dự báo, Việt Nam là một trong 5 quốc gia sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu toàn cầu. Dự báo so với năm 1990, thì nhiệt độ sẽ tăng thêm 1,4-1,5 oC vào năm 2050 và 2,5-2,8oC vào năm 2010 (Hoang & Tran 2006). Sự thay đổi lượng mưa theo mùa: lượng mưa giảm khắp nước từ tháng 7, 8 nhưng lại tăng vào tháng 9, 10, 11 (MONRE, 2003). Tổng lượng mưa sẽ tăng 2,5-4,8% vào năm 2050. Dự báo lụt sẽ xảy ra trầm trọng hơn bởi lượng mưa tăng 12-19% ở một số vùng. Do nhiệt độ gia tăng, bão hoạt động nhiều hơn với cường độ cao hơn, đặc biệt các vùng ven biển sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của bão. Sự sói mòn bờ sông, ven biển tăng lên.

Theo dự báo, nếu mực nước biển dâng kéo dài thì tới năm 2100, mực nước biển sẽ dâng cao thêm tới 1m (MONRE 2003; Hoang 2005). Điều đó gây ngập lụt nghiêm trọng cho những vùng đất thấp ở châu thổ sông Mê Kông ở phía nam và châu thổ sông Hồng ở phía bắc. Riêng châu thổ Mê Kông, 1,7 triệu ha đất sẽ bị nhiễm mặn, lượng nước ngọt thiếu.

Việc giảm nhiệt độ trong một số ngày < 20oC (0-50 ngày vào năm 2070), tăng nhiệt độ trong một số ngày < 25oC (0-80 ngày vào năm 2070). Điều này sẽ tác động tới cả hệ sinh thái tự nhiên cũng như là nông nghiệp như thời gian sinh trưởng, phát triển, lịch mùa vụ, lịch phân bố, gia tăng địch hại và hoạt động của vi sinh vật, gây ra sự di cư 100-200km về phía bắc và tới vùng núi cao 100-500m nơi đó, chúng sẽ thế chỗ các loài á nhiệt đới (MONRE 2003). Một số loài sẽ bị tuyệt chủng bởi biến đổi khí hậu. Năng suất lúa các vụ đều suy giảm so với thời kỳ 1960-1998 từ 3-17% vào năm 2070 (Nguyen et al. 2005).

Biến đổi khí hậu toàn cầu cũng sẽ tác động nghiêm trọng tới nghề cá: số lượng các loài cá nhiệt đới với giá trị kinh tế thấp tăng lên trong khi số lượng các loài cá á nhiệt đới, giá trị kinh tế cao giảm đi. Rạn san hô suy thoái kéo theo sự suy thoái khu hệ cá sống trong rạn. Sự suy giảm sinh vật nổi làm suy giảm khối lượng cơ thể cá, dự báo làm giảm ít nhất 1/3 sản lượng cá biển của nước ta. Mực nước biển dâng lên sẽ tác động tới nghề nuôi hải sản, các đầm nuôi phải di chuyển địa điểm, diện tích rừng ngập mặn suy giảm, làm mất nơi cư trú của nhiều loài thuỷ sản ven bờ (MONRE 2003).

4. Diễn biến ĐDSH

Theo tốc độ phát triển kinh tế-xã hội hiện nay đang diễn ra như ở Việt Nam thì sẽ có những tác động nhất định đến ĐDSH. Như đã phân tích ở trên, tới năm 2020, những tác động tự nhiên là có nhưng không nhiều, mà chính tác động của các hoạt động do con người mới là đáng kể. Bởi vậy, xu thế diễn biến ĐDSH ở nước ta phụ thuộc chủ yếu vào các áp lực môi trường (mức độ ô nhiễm môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng làm giảm, chia cắt hoặc mất đi nơi sinh cư) và mức độ khai thác sử dụng tài nguyên sinh vật. Mặt khác, việc thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo vệ và phát triển ĐDSH cũng có vai trò tác động đến chiều hướng diễn biến ĐDSH.

Như các dự báo diễn biến môi trường đến 2010-2020 ở Hà Nội (Phạm Ngọc Đăng, 2000), đều có thể diễn ra theo hai kịch bản: i/ các nguồn thải được xử lý và ii/các nguồn thải không được xử lý. Nếu các nguồn thải không được xử lý thì hàm lượng các chất gây ô nhiễm ở nước, đất, không khí sẽ cao hơn nhiều lần so với hiện nay và vượt quá nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép. Còn với việc các nguồn thải được kiểm soát và xử lý thì tình trạng môi trường sẽ được cải thiện. Tương tự như hai thành phố trên, các tỉnh khác trong các khu vực này về cơ bản cũng có diễn biến môi trường theo các kịch bản này.

Cũng tương tự, việc xây dựng cơ sở hạ tầng là công việc tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, công tác đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược phải được thực hiện và các chủ đầu tư phải cam kết thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu giảm thiểu môi trường khi công trình đi vào hoạt động. Đồng thời phải có công tác giám sát môi trường nghiêm ngặt sau đó. Thực hiện được như vậy, môi trường sống được duy trì và ĐDSH mới được bảo tồn. 

Như vậy, xu thế ĐDSH trong các HST nếu tính đến khả năng nguyên nhân/áp lực môi trường cũng xảy ra theo hai kịch bản được bảo vệ và phát triển khi tình trạng môi trường (đất, nước) được cải thiện và càng suy giảm khi môi trường bị ô nhiễm nặng nề hơn.

Bên cạnh áp lực môi trường, phương thức sử dụng các HST và tài nguyên sinh vật một cách hợp lý, mở rộng và tăng cướng các biện pháp quản lý tốt các khu BTTN cũng là những yếu tố rất quan trọng tác động đến diễn biến ĐDSH. Nếu giải quyết các vấn đề trên một cách hợp lý thì xu thế diễn biến ĐDSH sẽ phát triển theo hướng tích cực và ngược lại.

Dưới góc độ sinh thái, đã thấy rõ các hậu quả tiêu cực về môi trường và ĐDSH các hệ sinh thái do chuyển đổi chức năng và thuộc tính của một số HST tự nhiên sang một HST khác. Tuy nhiên, việc chuyển đổi này vì mục tiêu kinh tế đang trở thành một thực tế trong xã hội. Diện tích các HST tự nhiên vốn có, là nơi cư trú của nhiều loài sinh vật bản địa với thuộc tính đa dạng sinh học cao bị giảm đi rõ rệt cùng với sự suy thoái về chất lượng các HST này:

- Các công trình làm thay đổi địa hình, có thể dẫn đến sự sụt lở đất, trượt đất, xói mòn nhất là đất vùng đồi núi.

- Thay đổi hệ sinh thái đới bờ, nhất là hệ sinh thái ngập mặn nếu chuyển vùng bãi bồi thành đất xây dựng. Hậu quả là diện tích rừng ngập nặm (RNM) bị suy giảm, làm giảm khả năng chắn sóng biển, gây xói lở bờ biển, làm giảm nơi cư trú, phát triển của các loài thuỷ sinh, giảm nguồn lợi thuỷ sản. Hậu quả này đã được báo cáo trong nhiều nghiên cứu khoa học về tác động môi trường do mất hệ sinh thái ven biển ở khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng, bán đảo Cà Mau. Vấn đề suy giảm hệ sinh thái ven biển càng trở nên nghiêm trọng khi các vùng ven biển, đặc biệt ven biển Nam Bộ và châu thổ Bắc Bộ đang và sẽ chịu ảnh hưởng mạnh do biến đổi khí hậu toàn cầu dẫn tới dâng cao mực nước biển.

- Suy giảm diện tích thảm thực vật, nhất là khi mở rộng các khu đô thị, khu đô thị và các KCN ở vùng ven biển. Việc giảm diện tích thảm thực vật sẽ làm giảm độ đa dạng sinh học, giảm khả năng giữ nước, giảm tài nguyên nước ngầm, tăng quá trình xói mòn, gia tăng cường độ lũ lụt và thay đổi khí hậu. Nếu việc mở rộng các đường giao thông, cảng biển, khu đô thị, khu du lịch dẫn đến xâm phạm vào diện tích các khu BTTN, Khu dự trữ Sinh quyển… thì tác hại về môi trường và văn hoá còn nghiêm trọng hơn.

- Sự suy giảm số lượng và suy thoái chất lượng rừng ngập mặn do phá rừng xây dựng đầm nuôi tôm.

- Thâm canh nông nghiệp đồng nghĩa với gia tăng lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón hóa học. Các thành phần hóa học này nếu không được sử dụng hết, lượng dư thừa sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường bên ngoài.

- Các đầm nuôi tôm thâm canh, công nghiệp với lượng nước thải lớn hầu như không được xử lý gây ô nhiễm môi trường tiếp nhận nước thải đồng thời gây bệnh dịch tôm hàng loạt.

- Các vùng nước nuôi hải sản lồng bè cũng có dấu hiệu ô nhiễm do thức ăn thừa và các sản phẩm bài tiết của vật nuôi rơi xuống trầm tích đáy gây ô nhiễm đáy.

- Việc biến các bãi triều tự nhiên thành các vùng nuôi ngao (Meretrix spp.) với mật độ nuôi rất lớn cũng gây ra những vấn đề môi trường nuôi, tỷ lệ chết của đối tượng nuôi cao.

Việc chuyển đổi HST diễn ra mỗi nơi mỗi khác nhau. Ở vùng ven biển: phá rừng ngập mặn, cải tạo vùng cát, ruộng lúa nước để xây dựng đầm tôm, biến vùng bãi triều tự nhiên thành bãi nuôi động vật thân mềm.  Ở vùng nội địa: các HST đầm lầy được cải tạo thành ruộng lúa, ao nuôi thủy sản, HST rừng bị thu hẹp chuyến sang trồng cây công nghiệp. Có thể nói việc chuyển đổi chức năng HST sang HST với chức năng khác ở một mức độ nào đó là cần thiết. Có thể thí dụ như  việc hình thành các đầm nuôi tôm ven biển với chức năng cung cấp sản phẩm thuỷ sản nuôi có giá trị tôm sú, cua… trong những năm đầu có thể mang lại những hiệu quả kinh tế nhất định nhưng việc đánh giá so sánh những thiệt hại sinh thái lâu dài như mất rừng ngập mặn thì chưa được tính đến một cách đầy đủ dưới quan điểm phát triển bền vững HST.

Như vậy, nếu xem xét về bản chất thì hầu hết sử chuyển đổi đó đã dẫn tới sự xung đột về mục tiêu sử dụng chức năng của cùng một HST giữa các các ngành kinh tế Nông, Lâm và Ngư nghiệp.

Bảng 7. Xung đột mục tiêu khi chuyển đổi chức năng, thuộc tính của

một số HST tự nhiên

Chuyển đổi chức năng và thuộc tính HST

Ngành Lâm nghiệp

Ngành Nông nghiệp

Ngành Thủy sản

Ngành Công nghiệp

Môi trường

Đa dạng sinh học

Sông - hồ chứa nước

Mất: rừng lòng hồ

Được: Tiểu khí hậu tích cực cho rừng trên lưu vực

Được: nước tưới

Được: vực nước nuôi cá

Mất: các loài cá di cư, các loài cá tự nhiên bản địa

Được: điện

 

Đa dạng sinh học vùng hạ lưu tới cửa sông bị tác động

Rừng ngập mặn-đầm tôm

 

Mất: rừng phòng hộ, suy thoái ĐDSH.

 

Được: Tăng diện tích và sản lượng thủy sản nuôi

Mất: suy thoái ĐDSH thủy sinh vật

 

Mất: vấn đề chất thải từ nuôi trồng tác động đến môi trường đất, nước  xung quanh.

 

Mất quần  xã sinh vật  rừng ngập mặn

Ruộng lúa ven biển-đầm tôm

 

Mất: diện tích trồng lúa

Được: sản lượng thủy sản

 

Mất: Môi trường nuôi trồng.

Nhiễm mặn đất

 

Bãi triều tự nhiên-bãi nuôi động vật thân mềm

 

 

Được: sản lượng thủy sản nuôi.

Mất: suy thoái ĐDSH vùng triều tự nhiên

 

Mất: vấn đề môi trường nuôi

Mất quần  xã sinh vật bãi triều tự nhiên

Rừng tự nhiên, đầm lầy-cây công nghiệp

Thay đổi chế độ thủy văn

Mất: Nơi cư trú nhiều loài động vật hoang dã, suy thoái ĐDSH.

Được: sản lượng lương thực, sản lượng quả, hạt

 

 

Mất: vấn đề môi trường

 

Ngoài ra, trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở Việt Nam, vấn đề môi trường còn tác động tới môi trường tự nhiên, các hệ sinh thái, ngành thủy sản và du lịch sinh thái.

- Do phát triển kinh tế-xã hội, lượng chất thải không được xử lý tăng dẫn tới ô nhiễm môi trường. Các hệ sinh thái và vùng sinh thái ở hầu hết các vùng đô thị tập trung và khu công nghiệp lớn cũng là đối tượng bị tác động do chất thải.

Ở nồng độ cao, bụi, các khí độc (SO, NO­­­x) có thể gây tác hại đến đời sống cây cỏ và động vật hoang dã. Nước thải chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, các hoá chất độc hại có thể gây chết tôm, cá; các chất dinh dưỡng (N, P) ở nồng độ cao có thể gây phú dưỡng hóa nước sông, hồ, nước ven biển dẫn đến ảnh hưởng xấu đến đời sống của các loài động vật thủy sinh.

- Tác động tới ngành thủy sản: Năng suất thuỷ sản phụ thuộc lớn vào chất lượng nước. Nguồn nước bị ô nhiễm do chất thải (ô nhiễm do hữu cơ, hoá chất nguy hại, ô nhiễm nhiệt, độ đục…) có thể làm suy giảm đáng kể sản lượng thuỷ sản, thậm chí gây chết hàng loạt tôm, cá, nghêu sò.

- Tác động tới môi trường du lịch sinh thái: Hiện nay, với hệ thống các khu BTTN có ở hầu hết các vùng sinh thái trong cả nước. Trong đó, nhiều khu đã trở thành các điểm du lịch sinh thái nổi tiếng. Tuy nhiên, các vùng sinh thái này đang và sẽ là đối tượng chịu tác động do Quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội vùng lãnh thổ, quy hoạch của từng ngành.

Dự báo xu thế diễn biến ĐDSH của Việt Nam được trình bày tóm tắt ở bảng dưới đây

Bảng 8. Biểu diễn xu thế diễn biến của các HST và ĐDSH

Các HST tiêu biểu với chức năng, thuộc tính

Xu thế diễn biến không tích cực của các áp lực cơ bản

Kiểm soát được các yếu tố

 

Ô nhiễm môi trường

Khai thác nguồn lợi quá mức

Chuyển đổi phương thức sử dụng HST

Di nhập loài ngoại lai

 

Rừng:

- Phòng hộ đầu nguồn, giữ nước, chống sói mòn, Nơi cư trú của nhiều loài thực vật, động vật hoang dã.

- Mức ĐDSH cao

- Dịch vụ sinh thái

 

;

;

 

U

Trảng cỏ, cây bụi

- Nơi cư trú động vật nhỏ, nơi ăn cỏ của động vật móng guốc.

- Mức ĐDSH thấp

 

 

;

;

U

Núi đá, núi đất:

- Rừng, thảm thực vật trên núi. Nơi cư trú của nhiều loài thực vật, động vật hoang dã.

- Mức ĐDSH cao

- Dịch vụ sinh thái.

 

;

;

 

U

Nông nghiệp:

- Cây trồng nông, lâm nghiệp

- Đa dạng sinh học nông nghiệp

;

 

;

;

U

Đô thị:

Công viên, Vườn nhà, cây đường phố

;

 

 

;

U

Sông, suối

- Nơi cư trú của thuỷ sinh vật

- Nơi thường đến của các loài động vật hoang dã: kiếm ăn, uống nước...

- Mức ĐDSH cao

- Dịch vụ sinh thái

;

;

;

;

U

Hồ, ao đầm:

- Nơi cư trú của thuỷ sinh vật, nuôi thuỷ sản.

- Nơi thường đến của các loài động vật hoang dã: kiếm ăn, uống nước...

- Mức ĐDSH trung bình

- Dịch vụ sinh thái

;

;

;

;

U

Rừng ngập mặn

- Phòng hộ, chống sói mòn, Nơi cư trú nuôi dưỡng động vật KXS giai đoạn con non

- Mức ĐDSH cao

;

 

;

 

 

U

Bãi triều

- Nơi sinh cư nhiều loài động vật KXS

- Mức ĐDSH cao

;

 

;

;

 

 

U

San hô

- Nơi sinh cư nhiều loài động vật KXS và cá

- Mức ĐDSH cao

;

;

 

 

 

U

Đầm nuôi/Lồng nuôi TS

- Cung cấp sản lượng TS nuôi

- Mức ĐDSH thấp

;

 

 

;

 

U

Cỏ biển

- Tạo nguồn dinh dưỡng (tự dưỡng), Nơi sinh cư nhiều loài động vật KXS và cá

- Mức ĐDSH cao

;

 

 

 

 

U

Vùng nước ven bờ

- Nơi sinh cư của nhiều loài cá và ĐVKXS.

- Mức ĐDSH cao

;

;

;

 

 

U

Đảo và vùng nước quanh đảo

 

;

;

;

U

Biển sâu

 

;

 

 

U

Chú thích:  ; Xu thế diễn biến HST và ĐDSH theo chiều hướng tiêu cực

                   U Xu thế diễn biến HST và ĐDSH theo chiều hướng tích cực

IV. ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐDSH

Nhằm bảo vệ và bảo tồn tài nguyên ĐDSH, Chính phủ Việt Nam đã đề ra các mục tiêu quốc gia, trong đó có các mục tiêu cụ thể tới 2010. Các mục tiêu này được ghi rõ trong Kế hoạch hành động quốc gia về ĐDSH ban hành năm 2007 (KHHĐQG về ĐDSH 2007), bao gồm 5 nhóm mục tiêu chính:

a/ Bảo tồn và phát triển ĐDSH trên cạn

b/ Bảo tồn và phát triển ĐDSH các vùng ĐNN và biển

c/ Bảo tồn và phát triển ĐDSH Nông nghiệp

d/ Sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật

e/ Tăng cường quản lý nhà nước về ĐDSH và an toàn sinh học

Ngoài ra, để làm rõ các nhóm mục tiêu trên trong KHHĐQG về ĐDSH, trong các văn bản Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của các bộ phê duyệt hoặc ban hành các Chính sách, Chiến lược, Kế hoạch hành động của các ngành Tài nguyên và môi trường, Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thuỷ sản...cũng đã đã nêu rõ các mục tiêu cụ thể. 

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình bảo tồn ĐDSH ở nước ta, có thể đề xuất các định hướng ưu tiên bảo tồn và phát triển ĐDSH của Việt Nam tới 2015-2020 như sau:

Các hoạt động ưu tiên:

Trên cơ sở những định hướng trên, để thực hiện tốt các mục tiêu quốc gia trong bảo tồn và phát triển bền vững ĐDSH, trong thời gian tới, các họat động ưu tiên được đề xuất như sau:

  1. Sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật ĐDSH 2008, đặc biệt là các văn bản quy định rõ về chức năng quản lý về đa dạng sinh học của các Bộ/ngành liên quan..
  2. Nâng cao nhận thức cho cộng đồng trong việc thực hiện Luật ĐDSH đồng thời tăng cường nâng cao năng lực cho hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về đa dạng sinh học ở cấp trung ương và địa phương.
  3. Xây dựng cơ chế liên kết và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý và thực thi việc quản lý bảo vệ ĐDSH với cơ quan đầu mối. Trong thời gian qua, mối liên hệ giũa các cơ quan này (cấp Bộ và dưới Bộ) chưa thật tốt, nên ảnh hưởng đến việc bảo vệ và phát triển ĐDSH của Việt Nam. Nhiều mâu thuẫn nảy sinh giữa một số Bộ/Ngành khi cùng sử dụng chung một dạng tài nguyên ĐDSH hoặc còn tình trạng mạnh ngành nào, ngành ấy cùng thực hiện nhiệm vụ của mình trong cùng một hệ sinh thái.
  4. Xây dựng chương trình nghiên cứu, bảo tồn và phát triển ĐDSH mang tính liên ngành của Quốc gia, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu. Tăng cường nghiên cứu, áp dụng phuơng pháp tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý các dạng tài nguyên và bảo tồn ĐDSH.
  5. Xây dựng chương trình quan trắcthống nhất quản lý dữ liệu đa dạng sinh học; Thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên đa dạng sinh học trên phạm vi toàn quốc.
  6. Cải thiện việc lồng ghép các nội dung bảo tồn ĐDSH trong các chương trình, kế hoạch, dự án của Nhà nước, của các Bộ, ngành và từng địa phương. Cần thực hiện các hướng ưu tiên: a/quy hoạch ĐDSH cấp vùng; b/ thực hiện nghiêm ngặt công tác đánh giá tác động môi trường các công trình hạ tầng, đặc biệt công tác hậu kiểm; c/ xây dựng chính sách người sử dụng phải trả tiền đối với việc khai thác thương mại ĐDSH và các lợi ích, dịch vụ hệ sinh thái.
  7. Phát triển bền vững hệ thống các khu bảo tồn của Việt Nam. Hiện nay, mục tiêu của các khu BT chủ yếu là bảo vệ một cách thuần túy, chưa kết hợp được giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển, nên các KBT chưa có đóng góp tích cực cho nền kinh tế cũng như cải thiện cuộc sống của người dân địa phương. Cần ưu tiên đánh giá và phát triển cơ hội cho cộng đồng được hưởng lợi từ việc cung cấp các dịch vụ hệ sinh thái tại các khu BTTN, bảo vệ vùng rừng đầu nguồn.
  8. Tăng cường quyền hạn và năng lực của các cộng động địa phương tích cực tham gia bảo vệ ĐDSH và các KBT. Muốn vậy, phải nâng cao nhận thức cộng đồng, cải thiện đời sống và xây dựng khung pháp lý, cơ chế khả thi để cộng đồng địa phương được tham gia và được chia sẻ lợi ích trong công tác bảo vệ, bảo tồn và phát triển tài nguyên ĐDSH, trước hết tại các KBT. Cho phép cộng đồng sử dụng tài nguyên trong các KBT theo truyền thống và mưu sinh với điều kiện đã thống nhất về kế hoạch, phân vùng và chương trình giám sát.
  9. Tăng cường quản lý nghiêm ngặt việc buôn bán trái phép động thực vật hoang dã một cách hữu hiệu. Hiện nay do chưa quản lý được nạn buôn bán động thực vật hoang dã nên không triệt được tận gốc nạn săn bẫy, khai thác hủy diệt các loài động thực vật hoang dã của rừng và các KBT.
  10. Cần thận trọng khi nhập các giống mới, các cơ quan sản xuất cần nghiêm chỉnh thực hiện các quy trình khảo nghiệm, đánh giá các giống loài nhập nội trước khi đưa ra sản xuất rộng rãi. Sớm có biện pháp quản lý và diệt trừ các loài sinh vật ngoại lai xâm hạii.
  11. Tăng cường đa dạng hoá và quản lý hiệu quả việc cung cấp tài chính cho bảo tồn. Để chặn đứng xu thế mất ĐDSH, tiến tới phát triển bền vững tài nguyên ĐDSH cần thực hiện:a/ tăng tổng mức đầu tư của Chính phủ cho công tác bảo tồn; b/tập trung đầu tư mang tính chiến lược hơn, đáp ứng các nhu cầu bảo tồn.
  12. Tiếp tục duy trì và tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế trong công cuộc bảo vệ thiên nhiên và ĐDSH hơn nữa. Đặc biệt, cần thiết phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế và khu vực liên quan tới ĐDSH như: Ban Thư ký CBD, GEF...trong việc hỗ trợ quốc gia triển khai CBD ở các mặt: hỗ trợ kỹ thuật, ngân sách, thông tin, phương pháp tiếp cận hệ sinh thái…

 

Gửi phản hồi
In
  Ý kiến bạn đọc
Họ và Tên Địa chỉ email  
  Tiêu đề
 
  Nội dung